2. Truy cập eMOIT
Bộ quản lý ngành, lĩnh vực là cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép và tổ chức cấp giấy phép sản xuất, kinh doanh hoá chất thuộc danh mục hoá chất hạn chế sản xuất, kinh doanh. Để được cấp giấy chứng nhận, giấy phép phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục sau:
- Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp Giấy chứng nhận, Giấy phép lập hồ sơ gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận, Giấy phép.
- Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận, Giấy phép bao gồm: Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận, Giấy phép theo mẫu quy định; Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy tờ chứng minh.
- Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận, Giấy phép cho tổ chức, cá nhân; trường hợp không cấp thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
- Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp Giấy chứng nhận, Giấy phép phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật.
Nội dung Giấy chứng nhận, Giấy phép gồm các thông tin sau:
- Tên, địa chỉ cơ sở sản xuất, kinh doanh hóa chất;
- Địa điểm sản xuất, kinh doanh hóa chất;
- Loại hình, quy mô, chủng loại hóa chất sản xuất, kinh doanh;
- Nghĩa vụ của cơ sở được cấp Giấy chứng nhận, Giấy phép;
- Đối với Giấy phép còn phải có quy định về thời hạn của Giấy phép.
Thời hạn của Giấy phép do bộ quản lý ngành, lĩnh vực quy định phù hợp với loại hình, quy mô và đặc thù của hóa chất thuộc Danh mục hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh.
Dự án sản xuất, kinh doanh hóa chất phải tuân thủ quy định của Luật Hoá chất, pháp luật về đầu tư, bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Dự án sản xuất, kinh doanh hóa chất phải sử dụng công nghệ bảo đảm tiêu chuẩn môi trường, giảm thiểu việc sử dụng hóa chất nguy hiểm và giảm thiểu chất thải hóa chất.
Chủ đầu tư dự án sản xuất, kinh doanh hóa chất phải xây dựng Biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất hoặc Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất theo quy định tại Chương VI của Luật hoá chất.
Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động hoá chất là những hành vi:
- Sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, cất giữ, sử dụng, gửi, cho, tặng hóa chất nguy hiểm trái quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Không công bố thông tin cần thiết, cung cấp thông tin không đầy đủ, thông tin sai lệch, che giấu thông tin về đặc tính nguy hiểm của hóa chất, sản phẩm chứa hóa chất nguy hiểm.
- Sử dụng hóa chất không thuộc danh mục được phép sử dụng, hóa chất không bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng, vượt quá hàm lượng cho phép để sản xuất và bảo quản thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn gia súc, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, sản phẩm hóa chất tiêu dùng.
- Sử dụng hóa chất độc để săn bắt động vật, thực hiện các hành vi xâm hại đến sức khoẻ con người, tài sản và môi trường.
Ngày 01 tháng 8 năm 2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 127/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, theo đó các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện việc rà soát tiêu chuẩn ngành được ban hành theo Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá năm 1999 và theo luật, pháp lệnh khác để lập các danh mục sau:
- Tiêu chuẩn ngành không phải sửa đổi, bổ sung nội dung khi được chuyển đổi thành tiêu chuẩn quốc gia;
- Tiêu chuẩn ngành phải sửa đổi, bổ sung nội dung khi chuyển đổi thành tiêu chuẩn quốc gia;
- Tiêu chuẩn ngành phải huỷ bỏ.
Việc rà soát và lập các danh mục phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12 năm 2007.
Nguyên tắc và thời hạn chuyển đổi tiêu chuẩn ngành thành tiêu chuẩn quốc gia:
- Tiêu chuẩn ngành có nội dung phù hợp với tiến bộ khoa học và công nghệ, điều kiện và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy định của pháp luật Việt Nam, cam kết quốc tế có liên quan theo danh mục quy định tại điểm a khoản 1 Điều này được xem xét để chuyển đổi thành tiêu chuẩn quốc gia;
Việc chuyển đổi các tiêu chuẩn ngành thành tiêu chuẩn quốc gia phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12 năm 2008.
- Tiêu chuẩn ngành có nội dung không phù hợp với tiến bộ khoa học và công nghệ, điều kiện và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy định của pháp luật Việt Nam, cam kết quốc tế liên quan theo danh mục quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được xem xét để sửa đổi, bổ sung nội dung và chuyển đổi thành tiêu chuẩn quốc gia;
Việc xem xét, sửa đổi, bổ sung nội dung và chuyển đổi các tiêu chuẩn ngành thành tiêu chuẩn quốc gia phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12 năm 2010.
Tiêu chuẩn ngành không được áp dụng trong thực tiễn, có nội dung lạc hậu so với tiến bộ khoa học và công nghệ, điều kiện và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, trái với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy định của pháp luật Việt Nam, cam kết quốc tế có liên quan.
Việc huỷ bỏ các tiêu chuẩn ngành phải hoàn thành trước ngày 30 tháng 6 năm 2008.
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức thực hiện việc chuyển đổi, huỷ bỏ tiêu chuẩn ngành theo trình tự, thủ tục sau đây:
- Chuyển hoàn toàn nội dung của tiêu chuẩn ngành thành dự thảo tiêu chuẩn quốc gia;
- Chuyển đổi hình thức trình bày theo hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ;
- Thẩm định dự thảo tiêu chuẩn quốc gia theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 17 của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật;
- Công bố tiêu chuẩn quốc gia theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 17 của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.
Trình tự, thủ tục sửa đổi, bổ sung nội dung để chuyển đổi tiêu chuẩn ngành thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật;
Trình tự, thủ tục huỷ bỏ tiêu chuẩn ngành thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.
Trường hợp bên bán điện trì hoãn việc cấp điện theo thời hạn thoả thuận trong hợp đồng mua bán điện đã ký thì việc tính bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng được thực hiện như sau:
- Về bồi thường thiệt hại: Mức bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng căn cứ theo thoả thuận trong hợp đồng, nếu không thoả thuận trong hợp đồng thì thực hiện theo quy định của pháp luật. Cụ thể, bên bán điện bồi thường cho bên mua điện bằng khoản thiệt hại trực tiếp mà bên mua điện phải chịu do hành vi vi phạm gây ra.
- Về phạt vi phạm hợp đồng: Mức phạt vi phạm nghĩa vụ hợp đồng căn cứ theo thoả thuận trong hợp đồng nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Trường hợp các bên không có thoả thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thương thiệt hại.
Mức phạt vi phạm hợp đồng do hai bên thoả thuận trong hợp đồng và được căn cứ vào giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.
Giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm được xác định bằng giá trị sản lượng điện đã thoả thuận trong hợp đồng và được tính toán căn cứ vào công suất đăng ký, thời gian đăng ký mua điện trong ngày, giá điện ghi trong hợp đồng mua bán điện và số ngày trì hoãn được xác định từ thời điểm cam kết cấp điện cho đến thời điểm được cấp điện, theo công thức sau:
T = A x g x n
Trong đó:
- T: Giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (đồng)
- A: Điện năng ngày xác định căn cứ vào các thông số đăng ký trong hợp đồng mua bán điện (công suất nhân với thời gian mua điện trong ngày)
- g: giá điện (đ/kWh)
- n: số ngày trì hoãn.
Theo Quy định kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện, giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán điện sinh hoạt ban hành kèm theo Quyết định số 31/2006/QĐ-BCN ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, những người sau đây có thẩm quyền kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện:
- Kiểm tra viên điện lực của các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động điện lực và sử dụng điện có quyền kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về hoạt động điện lực, sử dụng điện.
- Kiểm tra viên điện lực của đơn vị bán buôn điện, đơn vị bán lẻ điện có quyền kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về sử dụng điện.
Theo Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 02 tháng 7 năm 2002 về xử lý vi phạm hành chính, trong đó quy định việc kiểm tra, kiểm soát vi phạm pháp luật nhà nước quy định xử phạt vi phạm hành chính thời hạn xử lý có quyết định xử phạt theo Điều 56 của Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể:
1. Thời hạn ra quyết định xử phạt là mười ngày, kể từ ngày lập biên bản về vi phạm hành chính; đối với vụ vi phạm hành chính có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn ra quyết định xử phạt là ba mươi ngày. Trong trường hợp xét cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá ba mươi ngày. Quá thời hạn nói trên, người có thẩm quyền xử phạt không được ra quyết định xử phạt, trừ trường hợp xử phạt trục xuất; trong trường hợp không ra quyết định xử phạt thì vẫn có thể áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này và tịch thu tang vật vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành.
Người có thẩm quyền xử phạt nếu có lỗi trong việc để quá thời hạn mà không ra quyết định xử phạt thì bị xử lý theo quy định tại Điều 121 của Pháp lệnh này.
2. Khi quyết định xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính, thì người có thẩm quyền chỉ ra một quyết định xử phạt trong đó quyết định hình thức, mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm; nếu các hình thức xử phạt là phạt tiền thì cộng lại thành mức phạt chung.
3. Trong quyết định xử phạt phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm hành chính; những tình tiết liên quan đến việc giải quyết vụ vi phạm; điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng; hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung (nếu có), các biện pháp khắc phục hậu quả (nếu có); thời hạn, nơi thi hành quyết định xử phạt và chữ ký của người ra quyết định xử phạt.
Trong quyết định xử phạt cũng phải ghi rõ cá nhân, tổ chức bị xử phạt nếu không tự nguyện chấp hành thì bị cưỡng chế thi hành; quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.
4. Quyết định xử phạt có hiệu lực kể từ ngày ký, trừ trường hợp trong quyết định quy định ngày có hiệu lực khác.
5. Quyết định xử phạt được gửi cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt và cơ quan thu tiền phạt trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định xử phạt.
Ngày 6 tháng 9 năm 2000, Bộ trưởng Bộ Thương mại đã ban hành Quyết định số 1243/2000/QĐ-BTM về ban hành Quy chế công tác của công chức Quản lý thị trường trong đó quy định quy trình kiểm tra, kiểm soát quản lý thị trường, cụ thể:
Thẩm quyền ra quyết định kiểm tra, xử lý là Đội trưởng, Chi cục trưởng, Cục trưởng hoặc người được ủy quyền bằng văn bản.
- Khi ra Quyết định kiểm tra, thủ trưởng đơn vị phải căn cứ vào chương trình kế hoạch, phương án công tác của đơn vị đã được duyệt.(Trừ trường hợp kiểm tra bất thường qui định tại văn bản số 6873 TM/QLTT ngày 8/12/1998 của Bộ Thương mại).
- Trường hợp vi phạm quả tang, khẩn cấp và có căn cứ để nhận định rằng nếu không tiến hành kiểm tra ngay thì đối tượng vi phạm có thể tẩu thoát và tang vật vi phạm có thể bị tẩu tán, công chức QLTT có quyền tiến hành kiểm tra ngăn chặn hoặc phối hợp với các lực lượng khác để ngăn chặn và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc làm của mình, đồng thời phải báo cáo ngay cho thủ trưởng đơn vị biết bằng các phương tiện thông tin nhanh nhất.
Đối với công chức quản lý thị trường khi tiến hành kiểm tra phải tuân thủ các quy định:
- Mặc trang phục của quản lý thị trường, đeo biển hiệu, phù hiệu, cấp hiệu; xuất trình thẻ kiểm tra (chủ doanh nghiệp, chủ hộ sản xuất kinh doanh được quyền từ chối kiểm tra trong trường hợp Kiểm soát viên quản lý thị trường không xuất trình Thẻ kiểm tra).
- Công bố quyết định kiểm tra; Tiến hành kiểm tra hàng hoá, phương tiện và giấy tờ, sổ sách có liên quan đến vụ việc kiểm tra, kiểm tra hiện trường nơi sản xuất, buôn bán hàng hoá vi phạm pháp luật.
- Thực hiện đúng nội dung, thời hạn ghi trong Quyết định kiểm tra; Kết thúc kiểm tra phải lập Biên bản theo qui định. Chậm nhất sau 3 ngày phải báo cáo thủ trưởng đơn vị.
- Khi cần áp dụng các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm bảo việc thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải tuân thủ đúng thẩm quyền, thủ tục qui định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và các qui định của pháp luật hiện hành có liên quan, đặc biệt cần chú ý:
+ Phải làm đúng, đủ thủ tục tạm giữ hàng hoá, tang vật phạm pháp trong trường hợp vắng chủ hoặc vô thừa nhận.
+ Việc quản lý, bảo quản hàng hoá, tang vật phải đảm bảo an toàn về mọi mặt, chống mất mát, chống cháy nổ và an toàn vệ sinh thực phẩm.
+ Việc kiểm tra phương tiện, nơi cất giấu hàng hoá đặc biệt nhà ở cũng là nơi bán hàng, cất giấu hàng hoá phải thực hiện đúng qui định của pháp luật.
Trong trường hợp cần thiết, công chức quản lý thị trường được quyền sử dụng vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ, các phương tiện chuyên dùng khác và phải tuân thủ nghiêm ngặt Nghị định số 47/CP ngày 12 tháng 8 năm 1996 của Chính phủ về quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Theo quy định tại Điều 201 Luật Thương mại năm 2005 cuộc đấu giá được tiến hành theo trình tự như sau:
1. Người điều hành đấu giá điểm danh người đã đăng ký tham gia đấu giá hàng hoá.
2. Người điều hành đấu giá giới thiệu từng hàng hoá bán đấu giá, nhắc lại giá khởi điểm, trả lời các câu hỏi của người tham gia đấu giá và yêu cầu người tham gia đấu giá trả giá.
3. Đối với phương thức trả giá lên, người điều hành đấu giá phải nhắc lại một cách rõ ràng, chính xác giá đã trả sau cùng cao hơn giá người trước đã trả ít nhất là ba lần, mỗi lần cách nhau ít nhất ba mươi giây. Người điều hành đấu giá chỉ được công bố người mua hàng hoá bán đấu giá, nếu sau ba lần nhắc lại giá người đó đã trả mà không có người nào trả giá cao hơn.
4. Đối với phương thức đặt giá xuống, người điều hành đấu giá phải nhắc lại một cách rõ ràng, chính xác từng mức giá được hạ xuống thấp hơn giá khởi điểm ít nhất là ba lần, mỗi lần cách nhau ít nhất ba mươi giây. Người điều hành đấu giá phải công bố ngay người đầu tiên chấp nhận mức giá khởi điểm hoặc mức giá hạ thấp hơn mức giá khởi điểm là người có quyền mua hàng hóa đấu giá.
5. Trường hợp có nhiều người đồng thời trả mức giá cuối cùng đối với phương thức trả giá lên hoặc mức giá đầu tiên đối với phương thức đặt giá xuống, người điều hành đấu giá phải tổ chức rút thăm giữa những người đó và công bố người rút trúng thăm được mua là người mua hàng hoá bán đấu giá.
6. Người điều hành đấu giá phải lập văn bản bán đấu giá hàng hoá ngay tại cuộc đấu giá, kể cả trong trường hợp đấu giá không thành. Văn bản bán đấu giá phải ghi rõ kết quả đấu giá, có chữ ký của người điều hành đấu giá, người mua hàng và hai người chứng kiến trong số những người tham gia đấu giá; đối với hàng hoá bán đấu giá phải có công chứng nhà nước theo quy định của pháp luật thì văn bản bán đấu giá cũng phải được công chứng.
Theo nghĩa rộng hàng hàng hoá được hiểu là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thoả mãn những nhu cầu mang tính xã hội. Dưới góc độ pháp luật, dựa vào đặc trưng của từng loại hàng hoá mà hàng hoá được phân thành: động sản, bất động sản, tài sản hữu hình và tài sản vô hình hoặc các quyền tài sản.
Theo khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 hàng hoá bao gồm: tất cả các động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai.
Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận.
Các quy định chung về hoạt động mua bán hàng hoá được thể hiện qua những điểm cơ bản sau:
Thứ nhất về hàng hoá cấm kinh doanh, hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh doanh có điều kiện. Luật giao Chính phủ quy định cụ thể danh mục hàng hoá hàng hoá cấm kinh doanh, hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh doanh có điều kiện và điều kiện để được kinh doanh hàng hoá đó (Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2006).
Thứ hai về hoạt động mua bán hàng hoá trong nước Luật quy định thương nhân được mua bán tất cả các loại hàng hoá trừ hàng hoá cấm kinh doanh, đối với hàng hoá hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện thì khi kinh doanh thương nhân phải đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định.
Thứ ba Luật đã đưa ra các hình thức được coi là mua bán hàng hoá quốc tế như xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tái nhập và chuyển khẩu. Căn cứ vào điều kiện kinh tế xã hội của và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ quy định cụ thể danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và thủ tục cấp giấy phép.
Thứ tư về việc áp dụng biện pháp khẩu cấp đối với hàng hoá lưu thông trong nước Luật đã quy định rõ các biện pháp khẩn cấp bao gồm: thu hồi hàng hoá, cấm lưu thông, tạm ngừng lưu thông, lưu thông có điều kiện hoặc phải có giấy phép đồng thời cũng quy định rõ ràng cơ sở để áp dụng các biện pháp này.
Thứ năm Luật cũng cho phép áp dụng biện pháp khẩn cấp trong mua bán hàng hoá quốc tế.
Thứ sáu Luật đưa ra một số chế định để làm rõ các phương thức của hoạt động xuất nhập khẩu.