Ảnh

Bộ trưởng Chu Bá Phượng

Bộ trưởng Bộ Kinh tế giai đoạn 3/1946 - 11/1946

Bộ trưởng Chu Bá Phượng sinh ngày 1 tháng 1 năm 1906, năm Bính Ngọ tại làng Mật Ninh, xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Mất năm 1964. Ông Phượng xuất thân từ một gia đình nhà Nho, bố là cụ Chu Bá Vá, là cụ Nghè Nếnh (tên Nôm của làng Mật Ninh). Mẹ là cụ Phạm Thị Rốt.

Làng Mật Ninh là một trong các làng nhiều tiến sĩ nho học vào loại nhất Việt Nam, với 10 người đã đỗ tiến sĩ trong các khoa thi từ năm 1469 đến 1619. Dòng họ Chu có truyền thống hiếu học từ lâu. Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám. Đây có thể coi là trường Đại Học đầu tiên ở Việt Nam.

Cụ tổ năm đời của ông Chu Bá Phượng là quan ngự sử Chu Danh Tể, quê ở Mật Ninh. Sau khi thi đỗ đươc làm quan đến chức Đề Hình Giám Sát Ngự Sử trong kinh Vua. Rồi làm Đốc Trấn ở Cao Bằng. Khi Cụ mất thờ ở Đình Cả. Chính Phủ Việt Nam công nhận Đình Cả là một di tích lịch sử. Bộ trưởng Chu Bá Phượng là một nhà trí thức thông minh. Ông sớm có lòng yêu nước thương dân và ý thức dân tộc từ thuở thiếu thời.

Bố mẹ của ông Chu Bá Phượng là cụ ông Chu Bá Vá (tạ thế ngày 29/12 năm Ất Dậu) và cụ bà Phạm Thị Rốt (tạ thế ngày 25/9 Âm lịch) sinh được tám người con, bốn trai, bốn gái. Chu Bá Phượng là thứ tư, về trai thì ông là thứ hai nên còn gọi là ông Hai. Cụ bà sinh rất khéo, cứ một trai lại đến một gái. Đầu lòng là bà gái. Con trai đặt tên Chim: Chim Loan, Chim Phượng, Chim Nhạn, Chim Cưu. Con gái đặt tên Hoa: Hoa Nhài, Hoa Hòe, Hoa Sen, Hoa Lý. Cụ Chu Bá Vá (cụ Nghè Nếnh) là nhà Nho, bốc thuốc chữa bệnh.


Ông Chu Bá Phượng từng làm Tham tán nên được gọi là ông Tham Phượng. Ông là một trong số những người sáng lập Việt Nam Quốc dân Đảng năm 1926, một Đảng do lãnh tụ Nguyễn Thái Học lãnh đạo chống Pháp, giải phóng dân tộc.


Ông Chu Bá Phượng tu nghiệp đại học tại Pháp. Ông tốt nghiệp Đại học Cầu đường. Ông là chuyên gia đã từng tham gia vào công trình thiết lập đường xe lửa Đông Dương vào hồi thập niên 1930. Ông là người đầu tiên ở Việt Nam nhận bằng cử nhân khoa học từ bên Pháp gửi sang. Ông là cử nhân trường Đại học Kiến Trúc.

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông được cử làm Bộ trưởng bộ Cứu tế từ năm 1945 đến 1946. Ông Chu Bá Phượng phát động toàn dân tiết kiệm nhường cơm sẻ áo cho đồng bào nghèo, thực hiện cứu trợ xã hội, cho các đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống do thiên tai, bão lụt, mất mùa, tàn tật do chiến tranh. Ông Chu Bá Phượng đã tự tay chế tạo ra máy phát điện.

Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, năm 1946 ông là Ủy viên quốc hội khóa I (1946-1960) của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong chính phủ ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Kinh tế.

Theo sắc lệnh của chủ tịch chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa số 93 ngày 4 tháng 6 năm 1946, đã cử ông Chu Bá Phượng làm phái viên và ông Vũ Trọng Khánh làm cố vấn trong phái đoàn Việt Nam sang Paris dự hội nghị Fontainebleau, do ông Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ký sắc lệnh.

Phái đoàn đại biểu Việt nam dân chủ cộng hòa do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, ông Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn cùng bộ trưởng Chu Bá Phượng và một số đại biểu Việt nam sang dự hội nghị Fontainebleau và đã ký được bản Tạm ước Việt-Pháp:

1. Quyền bình đẳng cho Pháp kiều ở Việt Nam cũng như Việt kiều tại Pháp,

2. Tài sản của người Pháp bị tịch thu sẽ được hoàn trả và quyền sở hữu tôn trọng.

3. Đồng bạc Đông Dương lệ thuộc vào đồng franc Pháp.

4. Thiết lập hệ thống thuế quan và tự do mậu dịch cho các xứ Đông Dương,

5. Tái lập trật tự và ngưng bắn ở Nam Kỳ, trao đổi tù binh và ngưng tuyên truyền kích động dân chúng.

Ngày toàn quốc kháng chiến, tháng 12 năm 1946, Chu Bá Phượng cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và chính phủ lên chiến khu Việt Bắc lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp.

Bộ trưởng Chu Bá Phượng là người có công vì nền hòa bình, hợp tác hữu nghị và giải phóng dân tộc đã trở thành khát vọng của toàn nhân loại.

Với một dân tộc luôn phải đương đầu với các cuộc chiến tranh giữ gìn và bảo vệ tổ quốc như Việt nam thì hòa bình còn là đạo lý và phương châm xử thế. Bộ trưởng Chu Bá Phượng là nhà chính trị, kinh tế, ngoại giao của dân tộc Việt nam là hiện thân của tinh thần nhân văn đó. Vợ của ông Chu Bá Phượng là bà Nguyễn Thị Phĩu, một giáo viên, nuôi tằm, dệt cửu và bốc thuốc chữa bệnh. Bà mất ngày 2 tháng 5 năm Đinh Hợi (năm 1947). Con gái là Nhà giáo ưu tú Chu Thị Thục Anh tốt nghiệp đại, học sư phạm.

Các thời kỳ phát triển
LÃNH ĐẠO QUA CÁC THỜI KỲ