Giai đoạn 2007 – 2011

I. Những thành quả sau 4 năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới

    1.1. Những cải cách về chính sách thương mại của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới

    Sau 11 năm đàm phán, Việt Nam đã trở thành thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới từ ngày 13 tháng 1 năm 2007. Quãng thời gian gần 4 năm từ đó đến nay tuy chưa thật dài, nhưng cũng phần nào cho thấy những tác động của việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới đối với nền kinh tế Việt Nam.

    Để gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, Việt Nam đã tiến hành cải cách chính sách thương mại theo hướng minh bạch và tự do hóa hơn, việc cải cách này thể hiện ở các cam kết đa phương và cam kết mở cửa thị trường.

    1.1.1. Các cam kết đa phương

    Cam kết đa phương là các cam kết chung, mang tính ràng buộc đối với tất cả các nước gia nhập. Chủ yếu các cam kết này tập trung vào việc xây dựng hệ thống pháp luật và cải cách thể chế phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Các cam kết này tập trung vào một số nội dung chính như:

- Áp dụng các cam kết về trợ cấp theo đúng các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (không trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa).

- Không áp dụng trợ cấp xuất khẩu nông sản (trừ trợ cấp dưới hình thức chi phí marketing và cước phí vận tải cho hàng xuất khẩu) nhưng được áp dụng các trợ cấp khác cho nông sản.

- Mở cửa quyền kinh doanh cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nước ngoài.

- Trao cho các doanh nghiệp nhà nước quyền tự chủ (Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp).

- Loại bỏ phân biệt đối xử trong việc áp dụng thuế tiêu thu đặc biệt thông qua việc áp dụng một mức thuế duy nhất thay vì nhiều mức thuế như đang áp dụng (ta có 3 năm để thực hiện).

- Áp dụng một cách minh bạch, công khai các quy định của pháp luật.

    Cho đến nay, về cơ bản, ta đã thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các cam kết gia nhập, kể cả đối với những lĩnh vực khá phức tạp như minh bạch hóa, trợ cấp v.v… Do vậy, cho đến nay chưa có ý kiến chính thức nào được gửi cho Tổ chức Thương mại thế giới về việc ta không thực hiện đúng các cam kết. Đây là điểm thể hiện quyết tâm hội nhập rất lớn của ta và cũng khác với một số nước mới gia nhập khác.

    Tuy vậy, còn đôi chỗ các doanh nhiệp nước ngoài ở Việt Nam còn muốn ta thực hiện mạnh hơn nữa các cam kết như mở thêm quyền kinh doanh đối với dược phẩm và văn hóa phẩm, tăng thêm bảo hộ cho dược phẩm của nước ngoài khi đăng ký để lưu hành tại Việt Nam v.v… Mặc dù vậy, đây đều là các “khuyến nghị” để đảm bảo lợi ích của họ, chứ không phải là các “yêu cầu” phát sinh từ việc ta chưa thực hiện đúng cam cam kết gia nhập.

    1.1.2. Các cam kết mở cửa thị trường

    Một trong những nội dung quan trọng nhất của các cam kết gia nhập là cam kết mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ. Thông qua các cam kết này, hàng hóa và dịch vụ của ta sẽ phải cạnh tranh gay gắt hơn với nước ngoài. Tuy nhiên, ngược lại đây cũng là cơ hội để ta cơ cấu lại nền kinh tế, hướng các doanh nghiệp tập trung vào các lĩnh vực Việt Nam có lợi thế cạnh tranh. Đồng thời, đây cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận với đầu vào phong phú với chi phí rẻ hơn và người tiêu dùng cũng được hưởng lợi từ hàng hóa, dịch vụ đa dạng hơn.

    a. Cam kết mở cửa thị trường hàng hóa

    Mở cửa thị trường hàng hóa được thực hiện thông qua việc cắt giảm thuế nhập khẩu và loại bỏ hàng rào phi quan thuế hạn chế thương mại.

    Về giảm thuế nhập khẩu, Việt Nam cam kết ràng buộc cho toàn bộ biểu thuế. Mức thuế bình quân toàn biểu được giảm từ mức 17,4% xuống còn 13,4%, thực hiện dần trong vòng 5-7 năm. Mức thuế bình quân đối với hàng nông sản giảm từ mức 23,5% xuống còn 20,9%, thực hiện trong khoảng 5 năm. Với hàng công nghiệp, mức bình quân giảm từ 16,8% xuống 12,6%, thực hiện chủ yếu trong vòng từ 5 đến 7 năm.

    Khoảng hơn 1/3 số dòng của biểu thuế sẽ phải cắt giảm, chủ yếu là các dòng có thuế suất trên 20%. Các mặt hàng trọng yếu, nhạy cảm đối với nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ô tô, xe máy... vẫn duy trì được mức bảo hộ nhất định. Những ngành có mức giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc và thiết bị điện - điện tử.

    Như vậy, nếu so với các cam kết cắt giảm thuế ta đã thực hiện thông qua các khu vực thương mại tự do (với các nước ASEAN, Trung Quốc và Hàn Quốc) thì lộ trình gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới là khá dài và mức độ cắt giảm thuế nhập khẩu cũng không mạnh bằng. Điều này cũng phù hợp với tập quán chung là các cam kết tự do hóa trong khu vực bao giờ cũng đi xa hơn cam kết trong Tổ chức Thương mại thế giới.

    Cho đến nay, ta đã thực hiện hoàn toàn nghiêm túc các cam kết về mở cửa thị trường hàng hóa. Thậm chí, đối với một số mặt hàng nguyên liệu đầu vào, nhằm giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, tránh lạm phát tăng cao, ta đã giảm thuế thấp hơn mức đã cam kết trong Tổ chức Thương mại thế giới.

    Tuy nhiên, cũng còn một số điểm cần xem xét rút kinh nghiệm, ví dụ như việc giảm thuế nhập khẩu ô tô thấp hơn nhiều so với lộ trình trong Tổ chức Thương mại thế giới với mục đích ban đầu nhằm làm người tiêu dùng hưởng lợi đã làm nhập khẩu ô tô nguyên chiếc tăng đột biến, thúc đẩy thêm tình trạng nhập siêu (mặc dù gần đây ta đã tăng lại thuế lên bằng mức cam kết trong Tổ chức Thương mại thế giới là 83% với ô tô du lịch).

    b. Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ

    Về diện cam kết, ta cam kết đủ 11 ngành dịch vụ, tính theo phân ngành khoảng 110/155. Trong Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ, ta đã cam kết 8 ngành dịch vụ (khoảng 65 phân ngành). Về mức độ, cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới tuy có đi xa hơn cam kết Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ, nhưng không nhiều.

    Đối với cam kết chung cho các ngành dịch vụ: ta đưa ra cam kết mới so với BTA cho phép tổ chức và cá nhân nước ngoài được mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam, nhưng với tỷ lệ phải phù hợp với mức mở cửa của ngành dịch vụ ta cam kết trong Tổ chức Thương mại thế giới. Riêng ngân hàng, ta chỉ cho phép nước ngoài được mua tối đa 30% cổ phần.

    Đối với cam kết cụ thể trong các ngành dịch vụ:

- Các ngành quan trọng như tài chính, ngân hàng, viễn thông cơ bản, phân phối có mức độ hầu như tương đương với Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ.

    + Các ngành khác như vận tải biển, du lịch, giáo dục, kế toán, pháp lý v.v… chính sách hiện hành tương đối thoáng nhằm thu hút đầu tư nước ngoài nên ta cũng có các cam kết phù hợp.

- Một số lĩnh vực nhạy cảm như in ấn - xuất bản, chủ quyền khai thác khoáng sản v.v… ta giữ không cam kết.

    Đến nay, có thể nói, ta đã thực thi tương đối nghiêm túc các quy định của WTO cũng như các cam kết gia nhập. Mặc dù vậy, một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đã nêu khó khăn trong một số trường hợp như:

- Khó khăn khi xin giấy phép đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ ở một số địa phương do chưa có văn bản giải thích, hướng dẫn kỹ mối quan hệ giữa quy định của pháp luật hiện hành với các cam kết khi ta gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới. Một mặt, vấn đề này nảy sinh do các cam kết về dịch vụ trong Tổ chức Thương mại thế giới rất phức tạp, bản thân các thành viên Tổ chức Thương mại thế giới cũng còn chưa thống nhất về cách hiểu ở nhiều chỗ. Mặt khác, để tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, theo quy định của Luật Đầu tư mới, ta đã tăng quyền chủ động cho các địa phương trong việc cấp phép đầu tư. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, các địa phương còn khá bỡ ngỡ vì cấp phép đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ thường có nội dung khá phức tạp. Cả hai nguyên nhân trên đều đòi hỏi cần có thời gian để xử lý triệt để. Chính vì vậy, Chính phủ đang đi vào giai đoạn cuối của quá trình soạn thảo và ban hành Nghị định hướng dẫn một số cam kết Tổ chức Thương mại thế giới trong lĩnh vực đầu tư (trong đó quan trọng nhất là đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ) để giải quyết các vấn đề phát sinh.

- Trong lĩnh vực ngân hàng mặc dù đã duyệt về nguyên tắc, nhưng chưa chính thức cấp phép cho các ngân hàng nước ngoài v.v...
- Các quy định về nước ngoài mua cổ phần trong doanh nghiệp dịch vụ của Việt Nam đã có nhưng đôi chỗ còn chưa hoàn toàn rõ ràng, đặc biệt đối với các doanh nghiệp kinh doanh đa ngành dịch vụ.

    Tuy nhiên, nhìn chung các vấn đề mới phát sinh đã được ta giải quyết với tinh thần một mặt cầu thị, cố gắng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, nhưng mặt khác cũng đảm bảo chủ quyền kinh tế của ta nên các thành viên Tổ chức Thương mại thế giới đến nay hài lòng về việc thực hiện cam kết mở cửa thị trường dịch vụ của ta.

    1.2. Những thành quả đối với nền kinh tế Việt Nam sau 4 năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới

    Gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới tác động lên nền kinh tế một nước thông qua các tác động trực tiếp của các cam kết cũng như tác động gián tiếp của tiến trình hội nhập. Thực tế cho thấy, việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới đã có tác dụng tích cực đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong 4 năm gần đây.

    1.2.1. Ổn định kinh tế vĩ mô

    Việc đánh giá mối liên hệ giữa việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới và những biến đổi vĩ mô của nền kinh tế là một việc rất khó, vì thực tế là việc cải cách kinh tế đã diễn ra trong những năm trước khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, những yếu tố bên ngoài như giá tiêu dùng tăng cao (đặc biệt giá dầu và lương thực) và sự bất ổn tài chính trên thị trường quốc tế năm 2007 chắc chắn đã tác động lên những yếu tố vĩ mô của nền kinh tế nước ta sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới. Vì vậy, trong một thời gian tương đối ngắn, khó có thể lượng hóa được tác động của việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới một cách tương đối chính xác.

    Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam trong 4 năm sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới khá phức tạp. Trong hai năm 2006-2007, Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao, đặc biệt trong năm 2007, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,46%, cao hơn 0,23 điểm % so với năm 2006 và là mức cao nhất trong vòng 11 năm. Tuy nhiên từ năm 2008, do những tác động của bối cảnh kinh tế thế giới và những khó khăn nội tại của nền kinh tế, đặc biệt là tình hình lạm phát cao vào năm 2008 và khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới từ cuối năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế đã chậm lại, tăng trưởng GDP năm 2008 chỉ đạt 6,31%, năm 2009 đạt 5,32%. Năm 2010, kinh tế đã có xu hướng phục hồi và đạt mức tăng trưởng khoảng 6,7%, cao hơn mức tăng trưởng của 2 năm trước, nhưng vẫn thấp hơn mức tăng trưởng thời kỳ 2000-2007.

    Trong 3 năm sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, lạm phát đã tăng liên tục từ 6,4% vào 1/2007 và đạt đỉnh 28,3% vào tháng 8/2008 rồi hạ xuống 6% vào tháng 5/2009 . Ngoài việc chịu tác động mạnh hơn từ sự tăng mạnh của giá cả thế giới do kết quả của việc hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn, khủng hoảng tài chính toàn cầu đã có những tác động khác nhau đối với giá cả ở Việt Nam. Dưới tác động của các nhân tố này, lạm phát đã thay đổi theo những chiều hướng khác nhau. Tuy nhiên, quá trình hội nhập không phải là nguyên nhân duy nhất gây ra những diễn biến lạm phát trong mấy năm vừa qua. Trên thực tế, diễn biến lạm phát còn chịu tác động của nhiều yếu tố nội tại, trong khi đó, công tác điều hành chính sách kinh tế vĩ mô chưa được điều chỉnh một cách linh hoạt nên đã làm cho lạm phát tăng cao trong năm 2008.

    Do kết quả của hội nhập kinh tế quốc tế, sự tham gia rộng hơn của các định chế tài chính nước ngoài và các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam đã có tác động tích cực đến hệ thống tài chính của Việt Nam, không chỉ theo chiều rộng mà cả theo chiều sâu, thể hiện ở tỷ lệ tăng trưởng tiền gửi/GDP, tín dụng/GDP, vốn hóa thị trường, số công ty niêm yết, giá trị niêm yết trái phiếu. Tuy vậy, công tác duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong những năm vừa qua vẫn còn một số vấn đề nhất định. Việc thực hiện mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế cao và ổn định dựa nhiều vào đầu tư, đặc biệt là đầu tư công, qua đó gây sức ép đối với thâm hụt ngân sách nhà nước và ổn định kinh tế vĩ mô. Ổn định kinh tế vĩ mô dưới tác động của hội nhập cũng gặp thách thức từ cải cách giá cả trong nước. Cụ thể, việc nới lỏng kiểm soát của Nhà nước đối với giá một số mặt hàng được thực hiện đơn giản theo hướng tăng khả năng điều chỉnh giá cho doanh nghiệp, mà chưa tính toán cụ thể đến cơ cấu thị trường hay bối cảnh áp lực lạm phát còn cao. Rõ ràng, tự do hóa giá cả là một biện pháp cần thiết về dài hạn, nhằm tạo điều kiện cho phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả, nhưng cũng cần được thực hiện một cách linh hoạt, có giải trình hợp lý trong những thời điểm nhất định nhằm hạn chế những tác động không thuận đối với tình hình ổn định kinh tế vĩ mô.

    1.2.2. Tăng trưởng xuất nhập khẩu

    Trong hai năm đầu sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (2007 và 2008), xuất khẩu của ta đã tăng trưởng mạnh. Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt 48,6 tỷ USD, tăng 21,9% so với năm 2006. Trong năm 2008, kim ngạch xuất khẩu đạt 62,7 tỷ USD, tăng tới 29,1% so với năm 2007. Năm 2009, do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 57,1 tỷ USD, giảm 8,9% so với năm 2008, nhưng vẫn cao hơn mức kim ngạch xuất khẩu năm 2006 là 45,8%. Năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu lại tiếp tục tăng trưởng, ước tính đạt 71,6 tỷ USD, tăng 25,5% so với năm 2009.

    Một tác động gián tiếp của Tổ chức Thương mại thế giới là sự thay đổi tích cực hơn trong cơ cấu xuất khẩu. Cơ cấu xuất khẩu chuyển dịch dần từ sản phẩm thô (dầu mỏ, than đá, cao su, gạo) sang sản phẩm công nghiệp chế biến, kể cả sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn. Điều đó chứng tỏ Việt Nam bước đầu đã ít nhiều phát huy được lợi thế động, bên cạnh việc tiếp tục tận dụng những lợi thế tĩnh vốn có của mình.

    Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế cũng làm xuất khẩu dễ bị tổn thương trước biến động từ bên ngoài như các cú sốc giá cả hay sự xuất hiện rào cản thương mại mới. Điều này một phần do chủng loại mặt hàng xuất khẩu còn nghèo nàn, tập trung vào một số ít hàng xuất khẩu chủ lực, thiếu đột phá, danh mục các mặt hàng xuất khẩu chính gần như không có nhiều thay đổi trong vòng 6 năm gần đây. Tỷ trọng kim ngạch các mặt hàng quan trọng nhất trong xuất khẩu chỉ giảm từ 80,8% năm 2004 và 79,5% năm 2006 xuống 76,7%, 73,0% và 68,8% trong 3 năm tiếp theo. Nếu bỏ dầu thô ra khỏi nhóm các mặt hàng xuất khẩu chính thì tỷ trọng các mặt hàng khác trong tổng kim ngạch xuất khẩu gần như không đổi. Năm 2004, tỷ trọng các mặt hàng này là 59,3% thì năm 2007, 2008 và 2009 lần lượt là 59,2%, 56,4% và 57,8%.

    Một tác động được dự đoán từ trước khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới là sự gia tăng nhập khẩu và nhập siêu. Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2007 đạt 62,8 tỷ USD (giá CIF), tăng 39,8% so với năm 2006; nhập siêu 14,2 tỷ USD. Nhập khẩu và nhập siêu năm 2008 tương ứng là 80,7 tỷ USD và 18,0 tỷ USD. Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất trong các tháng cuối năm 2008 giảm mạnh còn do suy thoái kinh tế thế giới đã có ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư và sản xuất ở Việt Nam và giá cả trên thị trường thế giới. Các ảnh hưởng này còn kéo dài đến qua năm 2009. Nhập khẩu và nhập siêu năm 2009 tương ứng là gần 70 tỷ USD và 12,9 tỷ USD, năm 2010 là 84 tỷ USD và 12,4 tỷ USD

    Việt Nam nhập siêu chủ yếu từ các nước châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, Hàn Quốc và ASEAN (là các quốc gia mà Việt Nam đã ký kết Hiệp định thương mại tự do). Đa số nguyên nhiên phụ liệu, vật tư và thiết bị máy móc được nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, và Thái Lan do lợi thế về vận tải, giá cả và tính phù hợp. Đặc biệt, ASEAN và Trung Quốc vẫn là những đối tác cung ứng lớn nhất cho nước ta, với tỷ trọng trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam tăng từ khoảng 31,9% năm 1995 lên 45,3% năm 2007, 43,4% năm 2008 và 43% năm 2009. Riêng tỷ trọng của Trung Quốc đã tăng từ 14,2% giai đoạn 2001-2006 lên trên 19% năm 2007 và năm 2008, và vọt lên tới 23,2% trong năm 2009. Trung Quốc là nhà cung cấp lớn nhất các mặt hàng thuộc nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng, các mặt hàng thuộc nhóm máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện và một số nhóm hàng khác. Nhập khẩu từ Hoa Kỳ, Nhật Bản, Liên minh Châu Âu chủ yếu là máy móc thiết bị công nghệ nguồn và một số nguyên vật liệu phụ trợ, nhưng lượng nhập còn khiêm tốn và tỷ trọng có xu hướng giảm. Như vậy có thể thấy, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới không có ảnh hưởng đáng kể đến việc tăng nhập siêu của ta.

    1.2.3. Chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng đầu tư

    a. Chuyển dịch cơ cấu

    Tương tự như thương mại, đầu tư là một trong các lĩnh vực chịu tác động nhanh nhất của hội nhập kinh tế quốc tế. Môi trường pháp lý minh bạch hơn, bình đẳng hơn, mức độ mở cửa cao hơn sau khi Việt Nam trở thành thành viên Tổ chức Thương mại thế giới, các điều kiện ưu đãi trong các hiệp định thương mại, đầu tư song phương và khu vực mà Việt Nam đã tham gia là những yếu tố quan trọng nhất thu hút đầu tư tại Việt Nam.

    Mở cửa thị trường dịch vụ là một trong các nguyên nhân chính dẫn đến bùng phát đầu tư trong khu vực này. Riêng tăng trưởng đầu tư cao đột biến trong ngành kinh doanh tài sản còn có nguồn gốc từ việc chuyển vốn của các nhà đầu tư từ các thị trường có rủi ro cao sang các thị trường mới nổi với lợi nhuận cao hơn. Trong mấy năm đầu gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, các ngành có đầu tư tăng trưởng mạnh nhất trong nền kinh tế là các ngành kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn (tăng 263,0% vào năm 2007 và 15,0% vào năm 2008); các ngành mở cửa thị trường cho đầu tư nước ngoài như tài chính và tín dụng (tăng 87,4% vào năm 2007 và 5,8% vào năm 2008); vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc (tăng 29,5% vào năm 2007 và 5,8% vào năm 2008). Tăng trưởng của các ngành này đều chủ yếu do đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoài và khu vực kinh tế ngoài nhà nước.

    Nông, lâm nghiệp là ngành có vốn đầu tư tăng trưởng cao hơn hẳn so với trước khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới. Tăng trưởng đầu tư trong các ngành này cũng chủ yếu từ khu vực đầu tư nước ngoài và ngoài nhà nước.

    Ngoài ra, chuyển dịch cơ cấu đầu tư trong những năm vừa qua có một số điểm đáng lưu ý sau:

- Các ngành kết cấu hạ tầng (vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc, xây dựng, điện, nước) đã và đang tiếp tục được ưu tiên;

- Các ngành góp phần cải thiện nguồn nhân lực như giáo dục đào tạo, y tế, khoa học công nghệ có tỷ trọng đầu tư còn nhỏ, không tăng hoặc thậm chí giảm;

- Chưa có chuyển biến mạnh về đầu tư trong các ngành có giá trị gia tăng cao và góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế như tài chính, ngân hàng;

- Hoạt động liên quan đến kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn bùng phát mạnh sau khi Việt Nam trở thành thành viên Tổ chức Thương mại thế giới.

    Trong mấy năm vừa qua, cơ cấu đầu tư theo thành phần kinh tế đã chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng tích cực do khu vực đầu tư nước ngoài và kinh tế ngoài nhà nước có tốc độ tăng trưởng cao hơn hẳn. Tỷ trọng đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội vẫn tiếp tục xu thế tăng từ 22,6% năm 2001 lên 38,5% vào năm 2007, nhưng giảm xuống còn khoảng 33,9% năm 2009 và 31,2% năm 2010.

    Từ năm 2006 đến 2008, dòng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng đột biến, năm 2006 vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt 12 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 4,1 tỷ USD, năm 2007 vốn đầu tư nước ngoài đăng ký và thực hiện lần lượt đạt 21,3 tỷ USD và 8,0 tỷ USD, năm 2008 đạt 71,7 tỷ USD và 11,5 tỷ USD. Năm 2009, mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt 23,1 tỷ (giảm so với 2008) nhưng vốn thực hiện vẫn đạt 10 tỷ USD, năm 2010 các con số này lần lượt là 21 tỷ USD và khoảng 11 tỷ USD.

    Trong khi đó, tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước giảm gần một nửa trong thời kỳ 2001-2008, từ 59,8% xuống còn 33,9%, tuy nhiên đã tăng lên khoảng 40,6% vào năm 2009 và 42,6% năm 2010 khi Nhà nước bổ sung thêm các nguồn vốn đầu tư (từ Ngân sách Nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ) để kích thích kinh tế, ngăn chặn đà suy giảm kinh tế do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới.

    Chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo thành phần kinh tế cho thấy, trong khi đầu tư nước ngoài và đầu tư ngoài nhà nước tăng lên nhờ môi trường đầu tư minh bạch hơn, và giảm đi cùng với suy thoái kinh tế toàn cầu thì vốn đầu tư nhà nước lại thay đổi theo chiều hướng ngược lại. Điều này cho thấy, cùng với hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn, nền kinh tế ngày càng mang tính thị trường, trong đó đầu tư không thuộc khu vực nhà nước đóng vai trò ngày càng quan trọng, còn đầu tư nhà nước đang dần trở thành công cụ điều tiết phát triển kinh tế ổn định.

    b. Đầu tư nước ngoài

    Đầu tư nước ngoài là lĩnh vực chịu tác động nhiều nhất từ các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới. Việc thực hiện các cam kết này, cùng với việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách đầu tư nước ngoài trong thời gian qua nhìn chung đã góp phần cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài. Việt Nam đã tiến hành điều chỉnh các chính sách kinh tế theo hướng minh bạch và thông thoáng hơn cho các doanh nghiệp, mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, cũng như các biện pháp cải cách đồng bộ trong nước, nhằm tận dụng tốt các cơ hội và vượt qua thách thức trong quá trình hội nhập. Cải cách hành chính trong đăng ký kinh doanh và cấp giấy chứng nhận đầu tư được đẩy mạnh, quy trình thủ tục xuất, nhập khẩu thuận lợi hơn, cơ chế một cửa ở một số địa phương đã được thực hiện tốt, các thủ tục liên quan đến đăng ký kinh doanh và cấp giấy chứng nhận đầu tư đã đơn giản và nhanh chóng hơn. Điều này đã khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tăng cường đầu tư vào Việt Nam cũng như mạnh dạn hơn trong việc tăng vốn, mở rộng quy mô các dự án đầu tư. Nhờ đó, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc. Thực hiện vốn đầu tư của khu vực đầu tư nước ngoài trong 2 năm đầu là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới có sự tăng trưởng mạnh, với mức tăng trưởng 75,3% vào năm 2007 và 42,6% vào năm 2008 (theo USD giá thực tế). Năm 2009, mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, vốn đầu tư thực hiện của khu vực đầu tư nước ngoài chỉ giảm 15% so với năm trước và năm 2010 con số này đã tăng 10% so với năm 2009.

    Nhìn chung, việc thực hiện các cam kết với Tổ chức Thương mại thế giới và các cam kết hội nhập khác về đầu tư, nhất là trong 3 năm đầu là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, đã có những tác động đáng kể đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, cả về tăng trưởng và cơ cấu vốn. Những thay đổi về môi trường đầu tư, kinh doanh trong quá trình thực hiện các cam kết đã giúp Việt Nam đón bắt được nhiều cơ hội đầu tư mới. Việc áp dụng các điều kiện về đầu tư, kinh doanh thông thoáng, minh bạch, không phân biệt đối xử đã tạo thuận lợi nhiều hơn cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu, nhờ đó khu vực đầu tư nước ngoài đã đóng góp tích cực trong tăng trưởng GDP, thu ngân sách, giải quyết việc làm.

    Tuy nhiên, cùng với việc hội nhập sâu rộng hơn vào kinh tế thế giới, đầu tư của khu vực đầu tư nước ngoài nói riêng và đầu tư toàn xã hội nói chung ngày càng chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ những biến động của tình hình kinh tế thế giới, nhất là khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới từ cuối năm 2008. Tăng trưởng và cơ cấu đầu tư đầu tư nước ngoài vào một số ngành mà Việt Nam mong muốn thu hút đầu tư vào nhiều hơn như nông, lâm nghiệp và thủy sản, giáo dục và đào tạo, hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng vẫn đạt thấp so với các ngành khác. Ngoài ra, việc tăng đột biến của dòng vốn đầu tư nước ngoài cũng làm bộc lộ khả năng hấp thụ vốn chưa cao của nền kinh tế, chủ yếu do các yếu kém về thể chế (dù đã được cải thiện), kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực có kỹ năng. Việt Nam cần phải vượt qua những thách thức trong lĩnh vực đầu tư kết cấu hạ tầng kém phát triển, nguồn nhân lực quản lý thiếu, công nghiệp hỗ trợ yếu, luật pháp thiếu rõ ràng và việc thực thi chưa nghiêm.

    1.2.4. Hoàn thiện thể chế kinh tế

    Trong gần 4 năm vừa qua, Việt Nam đã rất nỗ lực cải thiện khung pháp lý để nội luật hóa cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, nhằm hình thành môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng, minh bạch, giảm sự can thiệp của Chính phủ vào thị trường thông qua các biện pháp kiểm soát giá cả, phân bổ nguồn lực, sở hữu, các biện pháp bảo hộ, trợ cấp, độc quyền. Cụ thể, các Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Doanh nghiệp 2005 quy định thành lập doanh nghiệp rõ ràng hơn, quy định chi tiết danh mục các ngành nghề cấm kinh doanh hoặc hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện, danh sách các huyện, xã được ưu tiên khuyến khích đầu tư xóa bỏ nhiều giấy phép con phải tuân theo theo quy định trước đây, giúp các nhà đầu tư dễ dàng hơn trong việc lựa chọn lĩnh vực, ngành hàng và địa bàn đầu tư. Qui định về góp vốn, mua cổ phần cũng giải tỏa nhiều vướng mắc cho các tổ chức pháp nhân, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài.

    Khung pháp lý để phát triển các loại thị trường cũng tiếp tục được hoàn thiện. Đối với thị trường hàng hóa, một số rào cản từng bước được gỡ bỏ. Để bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng, kiểm soát tình trạng hàng nhái, hàng giả, tăng giá bất hợp lý, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã được Quốc hội thông qua vào tháng 11/2010. Để thực hiện các cam kết khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới trong lĩnh vực bưu chính viễn thông, Luật Viễn thông và Luật Bưu chính cũng đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XII, và có hiệu lực từ 01/01/2011. Với khung pháp lý ngày càng hoàn thiện, thị trường dịch vụ bưu chính viễn thông đã phát triển khá mạnh trong thời gian qua, chuyển từ độc quyền sang cạnh tranh, tạo điều kiện áp dụng nhiều công nghệ mới, đa dạng hóa dịch vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ, hạ giá thành sản phẩm. Khung pháp lý nhằm phát triển các loại thị trường dịch vụ khác như thị trường tài chính, cũng liên tục được điều chỉnh, bổ sung, đưa ra các quy định rõ ràng và bình đẳng về thành lập và hoạt động của ngân hàng, tổ chức quản lý ngân hàng, các nguyên tắc chung về quản trị, kiểm soát, điều hành ngân hàng. Trong 4 năm qua, khung pháp lý để điều tiết thị trường chứng khoán liên tục được hoàn thiện, góp phần đưa thị trường chứng khoán mặc dù mới ra đời trở thành một kênh ngày càng quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư ở Việt Nam.

    Ngoài ra, từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới đến nay, để đáp ứng các tiêu chí về một nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để giảm sự kiểm soát của Chính phủ đối với việc phân bổ nguồn lực và giá cả. Quản lý nhà nước được phân quyền và phân cấp mạnh mẽ xuống đến cơ sở; theo đó, người dân được tham gia vào quá trình phân bổ nguồn lực công tại địa phương.

    Về giá cả, Nhà nước và doanh nghiệp đã và đang thực hiện lộ trình chuyển sang giá thị trường đối với một số hàng hoá dịch vụ như điện, than, nước sạch, xăng dầu. Để giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước và các hoạt động kinh doanh, từ ngày 14/4/2010, lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng được thả nổi. Mặt khác, nhằm tăng cường vai trò của chính sách tiền tệ trong quản lý nhà nước, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi đã được Quốc hội thông qua năm 2010 và bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/2011. Nội dung dự kiến sẽ sửa đổi, điều chỉnh bao gồm các quy định thả nổi lãi suất cơ bản và điều hành lãi suất theo cơ chế thị trường.

    Như vậy, việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới đã có tác động đáng kể đến việc hoàn thiện thể chế kinh tế ở Việt Nam, thể hiện ở việc hoàn thiện khung pháp lý, củng cố bộ máy thực thi chính sách tham gia vào thực hiện và điều hành các hoạt động kinh tế, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế thực thi để đảm bảo có được môi trường kinh doanh thực sự cạnh tranh bình đẳng, giảm thiểu sự can thiệp của Chính phủ vào thị trường.

    II. Những hạn chế và thách thức

    Về cơ bản, việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới đã đem lại những kết quả như chúng ta mong muốn như tăng GDP, tăng trưởng xuất khẩu, đầu tư nước ngoài, phát triển các ngành dịch vụ. Tuy nhiên, trong thời gian qua hội nhập kinh tế nói chung và gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới nói riêng cũng đặt ra những thách thức cho nền kinh tế Việt Nam, đó là:

- Về năng lực thể chế, đã có những chuyển biến tích cực nhưng còn rất nhiều việc phải làm để tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho phù hợp với cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới và các chuẩn mực kinh tế thị trường. Phối hợp giữa các bộ, ngành nhiều khi còn chưa chặt chẽ, nhất quán và kịp thời. Đặc biệt, khuôn khổ pháp lý và thể chế giám sát vốn đầu tư gián tiếp còn thiếu và yếu, và điều này có thể làm tăng rủi ro bất ổn kinh tế vĩ mô.

- Còn nhiều hạn chế trong quá trình thực hiện cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới: Chưa xử lý hài hòa, thống nhất mối quan hệ giữa cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, đặc biệt cam kết về dịch vụ với khuôn khổ pháp lý hiện hành, chưa phân tích, xử lý thống nhất mối quan hệ và nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế, một số văn bản pháp luật được ban hành, sửa đổi để hướng dẫn thực hiện các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới chưa được ban hành kịp thời, có văn bản còn chưa rõ ràng, khiến cho việc thực hiện cam kết còn khó khăn. Các yếu tố này đã gây khó khăn nhất định cho các cơ quan quản lý, cấp phép đầu tư cũng như một số doanh nghiệp, nhà đầu tư muốn hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.

- Lạm phát cao, nhập siêu lớn, và sự xuất hiện những dấu hiệu dễ bị tổn thương của hệ thống tài chính - ngân hàng là những vấn đề phức tạp mà nước ta đang phải đối phó. Giải quyết vấn đề bất ổn kinh tế vĩ mô đang trở thành đòi hỏi cấp thiết.

- Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và của một số ngành chưa cao nên chưa tận dụng được hết các cơ hội do hội nhập đem lại, nhất là các cơ hội của hội nhập khu vực. Cụ thể:

+ Ngành công nghiệp chủ yếu vẫn là sơ chế, gia công với giá trị gia tăng chưa cao và còn phụ thuộc nhiều vào đầu vào nhập khẩu. Chủng loại hàng hóa còn đơn điệu, chất lượng chưa cao, khả năng cạnh tranh của sản phẩm còn yếu.

+ Năng suất lao động trong nông nghiệp còn rất thấp.

+ Xuất khẩu vẫn tăng nhưng còn nhiều hạn chế: Qui mô xuất khẩu còn nhỏ, kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Xuất khẩu tăng trưởng nhanh song dễ bị tổn thương bởi các cú sốc từ bên ngoài, như sự biến động giá cả trên thị trường thế giới hay việc áp dụng các rào cản thương mại của nước nhập khẩu. Chủng loại hàng hóa xuất khẩu còn đơn điệu, chậm xuất hiện những mặt hàng xuất khẩu mới có đóng góp kim ngạch đáng kể. Khả năng chủ động nắm bắt những cơ hội thuận lợi để thâm nhập và khai thác các thị trường xuất khẩu còn nhiều hạn chế.

+ Sự thiếu hụt nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng cũng đang là yếu tố cần khắc phục trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; trong khi đó toàn bộ hệ thống giáo dục, đào tạo đang tỏ ra chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế.

+ Khả năng tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn còn bị hạn chế vì tồn tại không ít vấn đề (hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực, v.v...) nên chưa tận dụng được hết cơ hội tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài do hội nhập đem lại.

+ Sự phối hợp giữa các tổ chức, cơ quan trong lĩnh vực hội nhập tuy đã được thực hiện tốt hơn, nhưng vẫn còn những mảng cần phải tiếp tục được hoàn thiện, đặc biệt là phối hợp giữa trung ương và địa phương.

Các thời kỳ phát triển
LÃNH ĐẠO QUA CÁC THỜI KỲ