Bộ trưởng Bộ Công Thương trả lời Đại biểu Phan Thị Bình Thuận, Đoàn đại biểu Quốc hội TP HCM

            

Nội dung 1: Hiện nay Bộ vẫn xác định điện than là điện nền với tỷ trọng 40-50% với 48 nhà máy trong sơ đồ điện 7 điều chỉnh đến năm 2030, trong khi than thì phải nhập khẩu; việc sản xuất điện than gây ô nhiễm môi trường cao. Vậy liệu xác định điện than với tỷ trọng cao có cần phải tính toán lại trong điều chỉnh quy hoạch điện?

Nội dung 2: Vừa qua, nước ta đã ký kết được nhiều hiệp định FTA, đặc biệt là các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA. Bộ trưởng cho biết kết quả triển khai thực hiện các hiệp định này? Những thuận lợi, khó khăn là gì? Sắp tới có giải pháp cụ thể nào để tận dụng được lợi thế, cơ hội từ các hiệp định này?

Nội dung 1:

1. Sự cần thiết, vai trò của nhiệt điện than

- Tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện bình quân giai đoạn 2003-2018 đạt 12,04%/năm, trong đó giai đoạn 2003-2012 tăng bình quân 13,07%/năm, giai đoạn 2013-2018 tăng bình quân 10,76%/năm.

- Năm 2018 nhu cầu điện thương phẩm khoảng 192 tỷ kWh. Công suất đặt hệ thống năm 2018 là 48.600 MW, tăng 6,3% so với năm 2017. Trong đó thủy điện chiếm gần 35%, nhiệt điện than khoảng 39%, khí tự nhiên khoảng 15%, thủy điện nhỏ và năng lượng tái tạo (NLTT) gần 8%, nhập khẩu điện và nguồn khác khoảng 3%.

- Theo quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020, có xét đến năm 2030 (Quy hoạch điện VII điều chỉnh), tổng công suất đặt của hệ thống khoảng 129.500 MW. Trong đó thủy điện chiếm gần 16,9%, nhiệt điện than khoảng 42,6%, nhiệt điện khí khoảng 14,7%, tỷ lệ của thủy điện nhỏ và năng lượng tái tạo khoảng 21%, nhập khẩu điện khoảng 1,2%. Với nhu cầu điện thương phẩm năm 2030 là trên 500 tỷ kWh (gấp gần 3 lần năm 2018), có thể thấy rằng việc đảm bảo đủ điện là sức ép lớn trong đầu tư nguồn (và lưới) điện.

Về nguồn điện, chúng ta có thủy điện, nhiệt điện (than, khí), năng lượng tái tạo, điện hạt nhân và điện nhập khẩu từ các nước:

+ Việt Nam có thuận lợi về thủy điện, với giá thành thấp nhất. Tuy nhiên, hiện nay các dự án thủy điện  lớn và vừa trên các dòng sông đã được quy hoạch, về cơ bản đã được đầu tư và khai thác hết. Các dự án thủy điện nhỏ, có chi phí, giá thành cao đang được từng bước đầu tư và khai thác.

+ Các nhà máy nhiệt điện khí hiện nay sử dụng nguồn khí trong nước. Trữ lượng các mỏ khí này đang bắt đầu suy giảm, từ 2019-2020 phải tìm kiếm nguồn khí bổ sung. Trong Quy hoạch điện 7 hiệu chỉnh, đã bổ sung nguồn khí hóa lỏng LNG nhập khẩu cung cấp cho các dự án điện phía Nam (Nhơn Trạch, Sơn Mỹ...). Các dự án điện khí thường có giá điện cao, theo tính toán sơ bộ, các dự án điện khí sử dụng khí khai thác trong nước (Lô B, Cá Voi xanh) có giá điện trung bình khoảng 2.300 – 2.500 đồng/kWh. Còn dự án sử dụng khí LNG nhập khẩu, giá điện hiện nay khoảng 10 UScent/kWh và phụ thuộc vào giá LNG trên thị trường thế giới.  

+ Đối với năng lượng tái tạo, chủ yếu điện gió và điện mặt trời tập trung ở một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên... và không đảm bảo ổn định cấp điện, do phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. Giá điện năng lượng tái tạo như hiện nay (điện mặt trời khoảng 2.100 đ/kWh và điện gió khoảng 1.900-2.200 đ/kWh) cũng là khá cao, chưa tính đến đầu tư bộ lưu trữ điện. Để phát triển năng lượng tái tạo, cần tiếp tục có cơ chế khuyến khích phát triển cùng các giải pháp đồng bộ về hệ thống truyền tải.

+ Điện hạt nhân đã dừng đầu tư.

+ Về nhập khẩu điện, Việt Nam đã mua điện từ Trung Quốc và hiện đang đàm phán để mua điện từ phía Lào. Nhưng với tỉ trọng nhỏ khoảng 1% và điều kiện mua, giá điện cũng còn gặp nhiều vấn đề.

+ Theo quy hoạch, nguồn nhiệt điện than chiếm tỉ trọng cao nhất trong cơ cấu nguồn điện (chiếm khoảng 42,6% công suất và sản xuất khoảng 53% điện năng toàn hệ thống), và đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo cung cấp điện cho phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030 và các năm sau. Về chi phí đầu tư và giá điện than: ở mức chấp nhận được (cao hơn thủy điện nhưng thấp hơn điện khí và năng lượng tái tạo).

Như vậy, việc phát triển các nguồn điện than trong thời gian tới là cần thiết nhằm đảm bảo cung cấp đủ điện cho phát triển, giá điện phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và thu nhập người dân. Dự kiến trong giai đoạn tới, mỗi năm hệ thống cần bổ sung 8.000 MW đến 10.000 MW thì nhiệt điện than cần bổ sung từ 3.200 MW đến 4.500 MW. Tuy nhiên vấn đề phát triển nhiệt điện than cần phải xem xét cẩn trọng, áp dụng các công nghệ hiện đại và có các giải pháp để đảm bảo yêu cầu về an toàn môi trường. 

2. Về công nghệ và đảm bảo môi trường của nhà máy nhiệt điện than:

- Hiện nay, Việt Nam có 28 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành, với tổng công suất khoảng 18.000 MW, có tỉ trọng khoảng 39% trong cơ cấu nguồn điện. Đa số các nhà máy nhiệt điện than đang vận hành sử dụng công nghệ (thông số hơi) cận tới hạn (Sub- Super Critical) có hiệu suất dưới 40% và hai nhà máy sử dụng công nghệ siêu tới hạn (SC) có hiệu suất có thể đến 42%. Các nhà máy nhiệt điện than đang xây dựng và chuẩn bị đầu tư đều được áp dụng công nghệ SC và công nghệ trên siêu tới hạn (USC) có hiệu suất cao, phát thải thấp (hiệu suất có thể đạt đến 45%).

- Các dự án nhiệt điện than đều lắp đặt các hệ thống xử lý khói và nước thải đảm bảo đáp ứng các yêu cầu theo tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành về an toàn môi trường khí và nước thải. Các dự án nhà máy điện khi xây dựng đều phải lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường đáp ứng yêu cầu và được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt.

- Hiện nay, các nhà máy nhiệt điện than đã lắp đặt hệ thống giám sát online kết nối với Sở Tài nguyên môi trường của địa phương để thực hiện giám sát thường xuyên về môi trường, đồng thời các Bộ và cơ quan chức năng cũng định kỳ kiểm tra việc thực hiện công tác đảm bảo an toàn môi trường của nhà máy điện theo kế hoạch, phương án được phê duyệt.

- Trong quá trình thực hiện đầu tư các dự án nhiệt điện than theo Quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Công Thương đã yêu cầu các chủ đầu tư tuân thủ các quy định pháp luật về đầu tư xây dựng, quy định về đảm bảo môi trường, đồng thời lựa chọn công nghệ, thiết bị hiện đại. Kiên quyết không chấp thuận việc phát triển các dự án với công nghệ cũ, lạc hậu và không đảm bảo an toàn môi trường. Bộ Công Thương đã ban hành Chỉ thị 11/CT-BCT ngày 19 tháng 10 năm 2016 về việc tăng cường công tác bảo vệ môi trường ngành Công Thương, đặc biệt đối với môi trường các nhà máy điện và thường xuyên kiểm tra, yêu cầu các chủ đầu tư nhà máy điện phải thực hiện nghiêm các quy định để đảm bảo an toàn môi trường. Đồng thời thường xuyên tổ chức các đoàn kiểm tra công tác đảm bảo an toàn môi trường tại các nhà máy nhiệt điện trong cả quá trình xây dựng và vận hành nhà máy.

3. Định hướng quy hoạch phát triển điện lực Việt Nam giai đoạn tiếp theo

Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021-2030, có xét đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII, dự kiến trình Thủ tướng Chính phủ trong năm 2020). Trong quá trình xây dựng Quy hoạch điện VIII, sẽ xem xét, tính toán để xác định cơ cấu các loại nguồn điện (thủy điện, nhiệt điện than, nhiệt điện khí, năng lượng tái tạo…) phù hợp để đảm bảo các mục tiêu: i) cung cấp đủ điện, ổn định, an toàn; ii) giá điện hợp lý; iii) đảm bảo môi trường. 

Nội dung 2:

1. Kết quả triển khai thực hiện các FTA thế hệ mới

1.1. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)

Ngày 24 tháng 01 năm 2019, chỉ 10 ngày sau khi Hiệp định chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 121/QĐ-TTg về phê duyệt Kế hoạch thực hiện Hiệp định CPTPP. Tính đến thời điểm hiện tại, đã có 27 Bộ, ngành và 62/63 địa phương đã ban hành Kế hoạch thực hiện Hiệp định CPTPP của Bộ, ngành, địa phương và gửi về Bộ Công Thương. Quyết định số 121/QĐ-TTg đề ra 05 nhóm nhiệm vụ chủ yếu. Tình hình triển khai một số nhiệm vụ chính như sau:

a) Về công tác phổ biến, tuyên truyền Hiệp định CPTPP

Hiện tại, đã có nhiều hội nghị, hội thảo, tập huấn về Hiệp định CPTPP được các Bộ, ngành, Hiệp hội, doanh nghiệp tổ chức tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước, giúp nâng cao nhận thức của các cơ quan quản lý Nhà nước, doanh nghiệp và người dân về Hiệp định CPTPP. Về phía Bộ Công Thương, Bộ đã liên tục chủ trì cũng như phối hợp tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo theo cụm tỉnh, thành phố bao gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ (cho các tỉnh Miền Tây Nam Bộ), Hải Phòng (cho 04 tỉnh Đông Bắc Bộ), Lâm Đồng (cho các tỉnh Miền Trung Tây Nguyên)…

Nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin của người dân và doanh nghiệp trên cả nước về Hiệp định CPTPP, Bộ Công Thương đã nâng cấp toàn bộ cấu trúc và nội dung của chuyên trang thông tin điện tử về Hiệp định CPTPP tại địa chỉ http://cptpp.moit.gov.vn/. Đây là Cổng thông tin chính thức về Hiệp định CPTPP của Bộ Công Thương, được thiết kế khoa học, thân thiện với người dùng. Các thông tin được đăng tải trên trang web này gồm có: tổng quan về CPTPP, toàn bộ văn kiện Hiệp định CPTPP (tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt), cam kết chính của CPTPP trong các lĩnh vực chủ chốt (như hàng hóa, dịch vụ - đầu tư, mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, lao động, doanh nghiệp Nhà nước...) và thông tin hữu ích cho nhà xuất khẩu cũng như cập nhật về tình hình thực thi Hiệp định của Chính phủ, các Bộ, ngành và các địa phương.

Kể từ khi đưa chuyên trang thông tin điện tử về Hiệp định CPTPP vào vận hành, Bộ Công Thương đã tiếp nhận nhiều câu hỏi, vấn đề thực tiễn mà các doanh nghiệp gặp phải và mong muốn Bộ Công Thương giải đáp liên quan đến các cam kết trong Hiệp định CPTPP. Trên cơ sở các vấn đề doanh nghiệp đưa ra, Bộ Công Thương đã nghiên cứu và đưa ra các khuyến nghị nhằm giúp các doanh nghiệp tháo gỡ các khó khăn để tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa các thách thức từ Hiệp định.

b) Công tác xây dựng văn bản pháp luật

Trong thời gian qua, Quốc hội, Chính phủ và một số Bộ ngành đã ban hành một số văn bản pháp luật để thực thi Hiệp định CPTPP, bao gồm:

- Luật số 42/2019/QH14 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ.

- Nghị định số 57/2019/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2019 của Chính phủ về Biểu thuế Xuất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt để thực thi Hiệp định CPTPP.

- Quyết định số 734/QĐ-TTg ngày 19 tháng 6 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ về chỉ định các cơ quan đầu mối để triển khai Hiệp định CPTPP.

- Thông tư số 19/2019/TT-BCT ngày 30 tháng 9 năm 2019 của Bộ Công Thương quy định về áp dụng các biện pháp tự vệ đặc biệt để thực thi Hiệp định CPTPP.

- Thông tư số 62/2019/TT-BTC ngày 05 tháng 09 năm 2019 của Bộ Tài Chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 38/2018/TT-BTC ngày 20 tháng 4 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

- Thông tư số 07/2019/TT-BCT ngày 19 tháng 4 năm 2019 của Bộ Công Thương quy định về xuất khẩu hàng dệt may sang Mê-hi-cô theo Hiệp định CPTPP.

- Thông tư số 03/2019/TT-BCT ngày 22 tháng 01 năm 2019 của Bộ Công Thương quy định quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định CPTPP.

1.2. Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA)

Sau khi Hiệp định EVFTA được ký kết vào ngày 30 tháng 6 năm 2019, nhận thức rõ được những tiềm năng mà Hiệp định EVFTA có thể mang lại, Bộ Công Thương đã liên tục chủ trì tổ chức các hội nghị, tập huấn nhằm phổ biến Hiệp định EVFTA cho các doanh nghiệp tại một số tỉnh, thành: Bắc Giang, Quảng Ninh, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Tại các Hội nghị này, Bộ Công Thương không chỉ giới thiệu tổng quan về Hiệp định EVFTA mà còn đi sâu vào các cam kết quan trọng trong một số lĩnh vực như nông nghiệp hay sở hữu trí tuệ.

Để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin của người dân và doanh nghiệp về Hiệp định EVFTA một cách thuận lợi và hiệu quả, Bộ Công Thương cũng đã xây dựng và đưa vào vận hành chuyên trang thông tin điện tử về Hiệp định EVFTA tại địa chỉ: http://evfta.moit.gov.vn/. Đây là Cổng thông tin chính thức của Bộ Công Thương, được thiết kế khoa học, thân thiện với người dùng. Các thông tin được đăng tải trên trang web này gồm có: tổng quan về EVFTA, toàn bộ văn kiện Hiệp định EVFTA (tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt), cam kết chính của EVFTA trong các lĩnh vực chủ chốt như hàng hóa, dịch vụ - đầu tư…

Sau khi đưa chuyên trang thông tin điện tử về Hiệp định EVFTA vào vận hành, Bộ Công Thương đã tiếp nhận nhiều câu hỏi, vấn đề thực tiễn mà các doanh nghiệp, người dân mong muốn Bộ Công Thương giải đáp để có thể chủ động tận dụng tốt một thị trường lớn và tiềm năng như Liên minh châu Âu (EU) sau khi Hiệp định EVFTA được phê chuẩn và đi vào thực thi trong thời gian tới. Trên cơ sở các vấn đề doanh nghiệp đưa ra, Bộ Công Thương đã nghiên cứu và đưa ra các khuyến nghị nhằm giúp các doanh nghiệp tháo gỡ các khó khăn, từ đó có sự chuẩn bị tốt để tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa các thách thức từ Hiệp định.

Hiện tại, Bộ Công Thương cũng đã xây dựng kế hoạch phổ biến, tuyên truyền Hiệp định EVFTA trong thời gian tới, theo đó các hội thảo sẽ được tổ chức theo khu vực địa lý và chuyên môn hóa theo lĩnh vực/ngành hàng mà doanh nghiệp quan tâm và có lợi ích. Bộ Công Thương phối hợp tổ chức với các bộ, ngành và địa phương tổ chức hội thảo chuyên sâu cho đối tượng là cán bộ Nhà nước nhằm thúc đẩy việc phê chuẩn, thực thi Hiệp định…

2. Một số khó khăn, hạn chế trong thực thi các Hiệp định trên

Sau khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực, mặc dù Chính phủ đã luôn chỉ đạo sát sao, tuy nhiên, việc triển khai thực thi Hiệp định CPTPP vẫn gặp những vướng mắc chính như sau:

- Thứ nhất, tính chủ động trong việc thực hiện Hiệp định CPTPP của một số Bộ, ngành và địa phương chưa thực sự tích cực. Điều này thể hiện qua việc xây dựng Kế hoạch hành động của nhiều Bộ, ngành và địa phương còn chậm, chưa đúng tiến độ theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ. Điều này sẽ khiến cho việc triển khai Hiệp định CPTPP không được đồng bộ, nhất quán, ảnh hưởng chung đến hiệu quả của việc thực thi cũng như tận dụng cơ hội từ Hiệp định CPTPP.

- Thứ hai, Kế hoạch hành động của phần lớn các tỉnh, thành phố chưa đề ra nhiệm vụ chi tiết với đơn vị phụ trách cũng như mốc thời gian cụ thể cho việc thực hiện. Điều này có thể khiến cho các Kế hoạch hành động khó đi vào triển khai trên thực tế cũng như khiến cho công tác theo dõi, đôn đốc gặp nhiều khó khăn.

- Thứ ba, nguồn lực triển khai, đặc biệt là kinh phí còn hạn chế, thậm chí là chưa được cấp kinh phí, nên nhiều hoạt động chưa được triển khai theo đúng Kế hoạch mà Thủ tướng Chính phủ yêu cầu.

 3. Giải pháp nhằm tận dụng cơ hội từ các Hiệp định trên

- Thứ nhất, tiếp tục chủ trì, phối hợp các Bộ, ngành, Hiệp hội và địa phương tổ chức các hội nghị, tập huấn theo hướng đa dạng hóa về hình thức tổ chức và chuyên môn hóa về nội dung và phát hành các tài liệu giới thiệu về nội dung cam kết, tác động đối với Việt Nam và trong từng lĩnh vực cụ thể nhằm phổ biến, tuyên truyền, đào tạo tới doanh nghiệp, người dân về các FTA này.

- Thứ hai, xây dựng Cổng thông tin điện tử về Hiệp định thương mại tự do (FTA Portal). Hiện tại Bộ Công Thương đang trao đổi, làm việc với Ngân hàng Thế giới (WB) với mục tiêu nhanh chóng xây dựng và đưa vào vận hành Cổng thông tin điện tử về FTA (FTA Portal). Đây sẽ là một cổng thông tin điện tử chính thức từ phía Bộ Công Thương để cung cấp thông tin về các FTA một cách chính thống, hiệu quả và kịp thời tới cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước. Cổng thông tin này sẽ là cửa ngõ duy nhất và toàn diện hướng dẫn doanh nghiệp và người dân tận dụng tối đa cơ hội do các FTA mang lại trên cơ sở công cụ tra cứu, hướng dẫn tiện ích cho người dùng.

- Thứ ba, đối với Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA, tiếp tục cập nhật các thông tin, tin tức, hội nghị, hội thảo, kế hoạch hành động, văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành và các tài liệu liên quan lên chuyên trang thông tin điện tử để cộng đồng doanh nghiệp và người dân kịp thời nắm bắt được tình hình triển khai Hiệp định từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước ở cả cấp Trung ương và địa phương, từ đó hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tìm hiểu, tận dụng được tối đa những cơ hội và lợi ích mà Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA có thể mang lại một cách dễ dàng, nhanh chóng.

Bộ Công Thương xin trân trọng cảm ơn Đại biểu Phan Thị Bình Thuận và Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh.

Đối với chất vấn của Đại biểu, Bộ Công Thương xin trả lời như sau:

Nội dung 1:

1. Sự cần thiết, vai trò của nhiệt điện than

- Tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện bình quân giai đoạn 2003-2018 đạt 12,04%/năm, trong đó giai đoạn 2003-2012 tăng bình quân 13,07%/năm, giai đoạn 2013-2018 tăng bình quân 10,76%/năm.

- Năm 2018 nhu cầu điện thương phẩm khoảng 192 tỷ kWh. Công suất đặt hệ thống năm 2018 là 48.600 MW, tăng 6,3% so với năm 2017. Trong đó thủy điện chiếm gần 35%, nhiệt điện than khoảng 39%, khí tự nhiên khoảng 15%, thủy điện nhỏ và năng lượng tái tạo (NLTT) gần 8%, nhập khẩu điện và nguồn khác khoảng 3%.

- Theo quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020, có xét đến năm 2030 (Quy hoạch điện VII điều chỉnh), tổng công suất đặt của hệ thống khoảng 129.500 MW. Trong đó thủy điện chiếm gần 16,9%, nhiệt điện than khoảng 42,6%, nhiệt điện khí khoảng 14,7%, tỷ lệ của thủy điện nhỏ và năng lượng tái tạo khoảng 21%, nhập khẩu điện khoảng 1,2%. Với nhu cầu điện thương phẩm năm 2030 là trên 500 tỷ kWh (gấp gần 3 lần năm 2018), có thể thấy rằng việc đảm bảo đủ điện là sức ép lớn trong đầu tư nguồn (và lưới) điện.

Về nguồn điện, chúng ta có thủy điện, nhiệt điện (than, khí), năng lượng tái tạo, điện hạt nhân và điện nhập khẩu từ các nước:

+ Việt Nam có thuận lợi về thủy điện, với giá thành thấp nhất. Tuy nhiên, hiện nay các dự án thủy điện  lớn và vừa trên các dòng sông đã được quy hoạch, về cơ bản đã được đầu tư và khai thác hết. Các dự án thủy điện nhỏ, có chi phí, giá thành cao đang được từng bước đầu tư và khai thác.

+ Các nhà máy nhiệt điện khí hiện nay sử dụng nguồn khí trong nước. Trữ lượng các mỏ khí này đang bắt đầu suy giảm, từ 2019-2020 phải tìm kiếm nguồn khí bổ sung. Trong Quy hoạch điện 7 hiệu chỉnh, đã bổ sung nguồn khí hóa lỏng LNG nhập khẩu cung cấp cho các dự án điện phía Nam (Nhơn Trạch, Sơn Mỹ...). Các dự án điện khí thường có giá điện cao, theo tính toán sơ bộ, các dự án điện khí sử dụng khí khai thác trong nước (Lô B, Cá Voi xanh) có giá điện trung bình khoảng 2.300 – 2.500 đồng/kWh. Còn dự án sử dụng khí LNG nhập khẩu, giá điện hiện nay khoảng 10 UScent/kWh và phụ thuộc vào giá LNG trên thị trường thế giới.  

+ Đối với năng lượng tái tạo, chủ yếu điện gió và điện mặt trời tập trung ở một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên... và không đảm bảo ổn định cấp điện, do phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. Giá điện năng lượng tái tạo như hiện nay (điện mặt trời khoảng 2.100 đ/kWh và điện gió khoảng 1.900-2.200 đ/kWh) cũng là khá cao, chưa tính đến đầu tư bộ lưu trữ điện. Để phát triển năng lượng tái tạo, cần tiếp tục có cơ chế khuyến khích phát triển cùng các giải pháp đồng bộ về hệ thống truyền tải.

+ Điện hạt nhân đã dừng đầu tư.

+ Về nhập khẩu điện, Việt Nam đã mua điện từ Trung Quốc và hiện đang đàm phán để mua điện từ phía Lào. Nhưng với tỉ trọng nhỏ khoảng 1% và điều kiện mua, giá điện cũng còn gặp nhiều vấn đề.

+ Theo quy hoạch, nguồn nhiệt điện than chiếm tỉ trọng cao nhất trong cơ cấu nguồn điện (chiếm khoảng 42,6% công suất và sản xuất khoảng 53% điện năng toàn hệ thống), và đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo cung cấp điện cho phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030 và các năm sau. Về chi phí đầu tư và giá điện than: ở mức chấp nhận được (cao hơn thủy điện nhưng thấp hơn điện khí và năng lượng tái tạo).

Như vậy, việc phát triển các nguồn điện than trong thời gian tới là cần thiết nhằm đảm bảo cung cấp đủ điện cho phát triển, giá điện phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và thu nhập người dân. Dự kiến trong giai đoạn tới, mỗi năm hệ thống cần bổ sung 8.000 MW đến 10.000 MW thì nhiệt điện than cần bổ sung từ 3.200 MW đến 4.500 MW. Tuy nhiên vấn đề phát triển nhiệt điện than cần phải xem xét cẩn trọng, áp dụng các công nghệ hiện đại và có các giải pháp để đảm bảo yêu cầu về an toàn môi trường. 

2. Về công nghệ và đảm bảo môi trường của nhà máy nhiệt điện than:

- Hiện nay, Việt Nam có 28 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành, với tổng công suất khoảng 18.000 MW, có tỉ trọng khoảng 39% trong cơ cấu nguồn điện. Đa số các nhà máy nhiệt điện than đang vận hành sử dụng công nghệ (thông số hơi) cận tới hạn (Sub- Super Critical) có hiệu suất dưới 40% và hai nhà máy sử dụng công nghệ siêu tới hạn (SC) có hiệu suất có thể đến 42%. Các nhà máy nhiệt điện than đang xây dựng và chuẩn bị đầu tư đều được áp dụng công nghệ SC và công nghệ trên siêu tới hạn (USC) có hiệu suất cao, phát thải thấp (hiệu suất có thể đạt đến 45%).

- Các dự án nhiệt điện than đều lắp đặt các hệ thống xử lý khói và nước thải đảm bảo đáp ứng các yêu cầu theo tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành về an toàn môi trường khí và nước thải. Các dự án nhà máy điện khi xây dựng đều phải lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường đáp ứng yêu cầu và được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt.

- Hiện nay, các nhà máy nhiệt điện than đã lắp đặt hệ thống giám sát online kết nối với Sở Tài nguyên môi trường của địa phương để thực hiện giám sát thường xuyên về môi trường, đồng thời các Bộ và cơ quan chức năng cũng định kỳ kiểm tra việc thực hiện công tác đảm bảo an toàn môi trường của nhà máy điện theo kế hoạch, phương án được phê duyệt.

- Trong quá trình thực hiện đầu tư các dự án nhiệt điện than theo Quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Công Thương đã yêu cầu các chủ đầu tư tuân thủ các quy định pháp luật về đầu tư xây dựng, quy định về đảm bảo môi trường, đồng thời lựa chọn công nghệ, thiết bị hiện đại. Kiên quyết không chấp thuận việc phát triển các dự án với công nghệ cũ, lạc hậu và không đảm bảo an toàn môi trường. Bộ Công Thương đã ban hành Chỉ thị 11/CT-BCT ngày 19 tháng 10 năm 2016 về việc tăng cường công tác bảo vệ môi trường ngành Công Thương, đặc biệt đối với môi trường các nhà máy điện và thường xuyên kiểm tra, yêu cầu các chủ đầu tư nhà máy điện phải thực hiện nghiêm các quy định để đảm bảo an toàn môi trường. Đồng thời thường xuyên tổ chức các đoàn kiểm tra công tác đảm bảo an toàn môi trường tại các nhà máy nhiệt điện trong cả quá trình xây dựng và vận hành nhà máy.

3. Định hướng quy hoạch phát triển điện lực Việt Nam giai đoạn tiếp theo

Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021-2030, có xét đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII, dự kiến trình Thủ tướng Chính phủ trong năm 2020). Trong quá trình xây dựng Quy hoạch điện VIII, sẽ xem xét, tính toán để xác định cơ cấu các loại nguồn điện (thủy điện, nhiệt điện than, nhiệt điện khí, năng lượng tái tạo…) phù hợp để đảm bảo các mục tiêu: i) cung cấp đủ điện, ổn định, an toàn; ii) giá điện hợp lý; iii) đảm bảo môi trường. 

 

 

 

Nội dung 2:

1. Kết quả triển khai thực hiện các FTA thế hệ mới

1.1. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)

Ngày 24 tháng 01 năm 2019, chỉ 10 ngày sau khi Hiệp định chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 121/QĐ-TTg về phê duyệt Kế hoạch thực hiện Hiệp định CPTPP. Tính đến thời điểm hiện tại, đã có 27 Bộ, ngành và 62/63 địa phương đã ban hành Kế hoạch thực hiện Hiệp định CPTPP của Bộ, ngành, địa phương và gửi về Bộ Công Thương. Quyết định số 121/QĐ-TTg đề ra 05 nhóm nhiệm vụ chủ yếu. Tình hình triển khai một số nhiệm vụ chính như sau:

a) Về công tác phổ biến, tuyên truyền Hiệp định CPTPP

Hiện tại, đã có nhiều hội nghị, hội thảo, tập huấn về Hiệp định CPTPP được các Bộ, ngành, Hiệp hội, doanh nghiệp tổ chức tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước, giúp nâng cao nhận thức của các cơ quan quản lý Nhà nước, doanh nghiệp và người dân về Hiệp định CPTPP. Về phía Bộ Công Thương, Bộ đã liên tục chủ trì cũng như phối hợp tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo theo cụm tỉnh, thành phố bao gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ (cho các tỉnh Miền Tây Nam Bộ), Hải Phòng (cho 04 tỉnh Đông Bắc Bộ), Lâm Đồng (cho các tỉnh Miền Trung Tây Nguyên)…

Nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin của người dân và doanh nghiệp trên cả nước về Hiệp định CPTPP, Bộ Công Thương đã nâng cấp toàn bộ cấu trúc và nội dung của chuyên trang thông tin điện tử về Hiệp định CPTPP tại địa chỉ http://cptpp.moit.gov.vn/. Đây là Cổng thông tin chính thức về Hiệp định CPTPP của Bộ Công Thương, được thiết kế khoa học, thân thiện với người dùng. Các thông tin được đăng tải trên trang web này gồm có: tổng quan về CPTPP, toàn bộ văn kiện Hiệp định CPTPP (tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt), cam kết chính của CPTPP trong các lĩnh vực chủ chốt (như hàng hóa, dịch vụ - đầu tư, mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, lao động, doanh nghiệp Nhà nước...) và thông tin hữu ích cho nhà xuất khẩu cũng như cập nhật về tình hình thực thi Hiệp định của Chính phủ, các Bộ, ngành và các địa phương.

Kể từ khi đưa chuyên trang thông tin điện tử về Hiệp định CPTPP vào vận hành, Bộ Công Thương đã tiếp nhận nhiều câu hỏi, vấn đề thực tiễn mà các doanh nghiệp gặp phải và mong muốn Bộ Công Thương giải đáp liên quan đến các cam kết trong Hiệp định CPTPP. Trên cơ sở các vấn đề doanh nghiệp đưa ra, Bộ Công Thương đã nghiên cứu và đưa ra các khuyến nghị nhằm giúp các doanh nghiệp tháo gỡ các khó khăn để tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa các thách thức từ Hiệp định.

b) Công tác xây dựng văn bản pháp luật

Trong thời gian qua, Quốc hội, Chính phủ và một số Bộ ngành đã ban hành một số văn bản pháp luật để thực thi Hiệp định CPTPP, bao gồm:

- Luật số 42/2019/QH14 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ.

- Nghị định số 57/2019/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2019 của Chính phủ về Biểu thuế Xuất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt để thực thi Hiệp định CPTPP.

- Quyết định số 734/QĐ-TTg ngày 19 tháng 6 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ về chỉ định các cơ quan đầu mối để triển khai Hiệp định CPTPP.

- Thông tư số 19/2019/TT-BCT ngày 30 tháng 9 năm 2019 của Bộ Công Thương quy định về áp dụng các biện pháp tự vệ đặc biệt để thực thi Hiệp định CPTPP.

- Thông tư số 62/2019/TT-BTC ngày 05 tháng 09 năm 2019 của Bộ Tài Chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 38/2018/TT-BTC ngày 20 tháng 4 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

- Thông tư số 07/2019/TT-BCT ngày 19 tháng 4 năm 2019 của Bộ Công Thương quy định về xuất khẩu hàng dệt may sang Mê-hi-cô theo Hiệp định CPTPP.

- Thông tư số 03/2019/TT-BCT ngày 22 tháng 01 năm 2019 của Bộ Công Thương quy định quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định CPTPP.

1.2. Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA)

Sau khi Hiệp định EVFTA được ký kết vào ngày 30 tháng 6 năm 2019, nhận thức rõ được những tiềm năng mà Hiệp định EVFTA có thể mang lại, Bộ Công Thương đã liên tục chủ trì tổ chức các hội nghị, tập huấn nhằm phổ biến Hiệp định EVFTA cho các doanh nghiệp tại một số tỉnh, thành: Bắc Giang, Quảng Ninh, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Tại các Hội nghị này, Bộ Công Thương không chỉ giới thiệu tổng quan về Hiệp định EVFTA mà còn đi sâu vào các cam kết quan trọng trong một số lĩnh vực như nông nghiệp hay sở hữu trí tuệ.

Để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin của người dân và doanh nghiệp về Hiệp định EVFTA một cách thuận lợi và hiệu quả, Bộ Công Thương cũng đã xây dựng và đưa vào vận hành chuyên trang thông tin điện tử về Hiệp định EVFTA tại địa chỉ: http://evfta.moit.gov.vn/. Đây là Cổng thông tin chính thức của Bộ Công Thương, được thiết kế khoa học, thân thiện với người dùng. Các thông tin được đăng tải trên trang web này gồm có: tổng quan về EVFTA, toàn bộ văn kiện Hiệp định EVFTA (tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt), cam kết chính của EVFTA trong các lĩnh vực chủ chốt như hàng hóa, dịch vụ - đầu tư…

Sau khi đưa chuyên trang thông tin điện tử về Hiệp định EVFTA vào vận hành, Bộ Công Thương đã tiếp nhận nhiều câu hỏi, vấn đề thực tiễn mà các doanh nghiệp, người dân mong muốn Bộ Công Thương giải đáp để có thể chủ động tận dụng tốt một thị trường lớn và tiềm năng như Liên minh châu Âu (EU) sau khi Hiệp định EVFTA được phê chuẩn và đi vào thực thi trong thời gian tới. Trên cơ sở các vấn đề doanh nghiệp đưa ra, Bộ Công Thương đã nghiên cứu và đưa ra các khuyến nghị nhằm giúp các doanh nghiệp tháo gỡ các khó khăn, từ đó có sự chuẩn bị tốt để tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa các thách thức từ Hiệp định.

Hiện tại, Bộ Công Thương cũng đã xây dựng kế hoạch phổ biến, tuyên truyền Hiệp định EVFTA trong thời gian tới, theo đó các hội thảo sẽ được tổ chức theo khu vực địa lý và chuyên môn hóa theo lĩnh vực/ngành hàng mà doanh nghiệp quan tâm và có lợi ích. Bộ Công Thương phối hợp tổ chức với các bộ, ngành và địa phương tổ chức hội thảo chuyên sâu cho đối tượng là cán bộ Nhà nước nhằm thúc đẩy việc phê chuẩn, thực thi Hiệp định…

2. Một số khó khăn, hạn chế trong thực thi các Hiệp định trên

Sau khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực, mặc dù Chính phủ đã luôn chỉ đạo sát sao, tuy nhiên, việc triển khai thực thi Hiệp định CPTPP vẫn gặp những vướng mắc chính như sau:

- Thứ nhất, tính chủ động trong việc thực hiện Hiệp định CPTPP của một số Bộ, ngành và địa phương chưa thực sự tích cực. Điều này thể hiện qua việc xây dựng Kế hoạch hành động của nhiều Bộ, ngành và địa phương còn chậm, chưa đúng tiến độ theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ. Điều này sẽ khiến cho việc triển khai Hiệp định CPTPP không được đồng bộ, nhất quán, ảnh hưởng chung đến hiệu quả của việc thực thi cũng như tận dụng cơ hội từ Hiệp định CPTPP.

- Thứ hai, Kế hoạch hành động của phần lớn các tỉnh, thành phố chưa đề ra nhiệm vụ chi tiết với đơn vị phụ trách cũng như mốc thời gian cụ thể cho việc thực hiện. Điều này có thể khiến cho các Kế hoạch hành động khó đi vào triển khai trên thực tế cũng như khiến cho công tác theo dõi, đôn đốc gặp nhiều khó khăn.

- Thứ ba, nguồn lực triển khai, đặc biệt là kinh phí còn hạn chế, thậm chí là chưa được cấp kinh phí, nên nhiều hoạt động chưa được triển khai theo đúng Kế hoạch mà Thủ tướng Chính phủ yêu cầu.

 3. Giải pháp nhằm tận dụng cơ hội từ các Hiệp định trên

- Thứ nhất, tiếp tục chủ trì, phối hợp các Bộ, ngành, Hiệp hội và địa phương tổ chức các hội nghị, tập huấn theo hướng đa dạng hóa về hình thức tổ chức và chuyên môn hóa về nội dung và phát hành các tài liệu giới thiệu về nội dung cam kết, tác động đối với Việt Nam và trong từng lĩnh vực cụ thể nhằm phổ biến, tuyên truyền, đào tạo tới doanh nghiệp, người dân về các FTA này.

- Thứ hai, xây dựng Cổng thông tin điện tử về Hiệp định thương mại tự do (FTA Portal). Hiện tại Bộ Công Thương đang trao đổi, làm việc với Ngân hàng Thế giới (WB) với mục tiêu nhanh chóng xây dựng và đưa vào vận hành Cổng thông tin điện tử về FTA (FTA Portal). Đây sẽ là một cổng thông tin điện tử chính thức từ phía Bộ Công Thương để cung cấp thông tin về các FTA một cách chính thống, hiệu quả và kịp thời tới cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước. Cổng thông tin này sẽ là cửa ngõ duy nhất và toàn diện hướng dẫn doanh nghiệp và người dân tận dụng tối đa cơ hội do các FTA mang lại trên cơ sở công cụ tra cứu, hướng dẫn tiện ích cho người dùng.

- Thứ ba, đối với Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA, tiếp tục cập nhật các thông tin, tin tức, hội nghị, hội thảo, kế hoạch hành động, văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành và các tài liệu liên quan lên chuyên trang thông tin điện tử để cộng đồng doanh nghiệp và người dân kịp thời nắm bắt được tình hình triển khai Hiệp định từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước ở cả cấp Trung ương và địa phương, từ đó hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tìm hiểu, tận dụng được tối đa những cơ hội và lợi ích mà Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA có thể mang lại một cách dễ dàng, nhanh chóng.

Bộ Công Thương xin trân trọng cảm ơn Đại biểu Phan Thị Bình Thuận và Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh.