Bộ trưởng Bộ Công Thương trả lời Đại biểu Phan Thị Bình Thuận, Đoàn đại biểu Quốc hội TP HCM

Nội dung 1: Vì sao đến nay điện than đã gây tác hại môi trường, sức khỏe mà Bộ vẫn chưa có giải pháp hiệu quả để hạn chế (Quy hoạch 43% tổng nguồn)?

Nội dung 2: Điện mặt trời nước ta có tiềm năng lớn sao không khuyến khích phát triển mạnh, điện mặt trời mới khởi sắc được một ít thì nay Bộ lại hạn chế, giảm mua làm cho nhà đầu tư rút lui, xã hội thiếu năng lượng sạch, phải chăng Việt Nam đi ngược lại xu hướng của thế giới?

Nội dung 3: Nạn giả những nhãn hiệu nổi tiếng trong nước, ngoài nước vẫn tràn lan, nhức nhối, vì sao Bộ chưa có giải pháp hiệu quả? Có hay không lợi ích nhóm trong việc này?

 

Nội dung 1:

1. Sự cần thiết, vai trò của nhiệt điện than

- Tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện bình quân giai đoạn 2003-2018 đạt 12,04%/năm, trong đó giai đoạn 2003-2012 tăng bình quân 13,07%/năm, giai đoạn 2013-2018 tăng bình quân 10,76%/năm.

- Năm 2018 nhu cầu điện thương phẩm khoảng 192 tỷ kWh. Công suất đặt hệ thống năm 2018 là 48.600 MW, tăng 6,3% so với năm 2017. Trong đó thủy điện chiếm gần 35%, nhiệt điện than khoảng 39%, khí tự nhiên khoảng 15%, thủy điện nhỏ và năng lượng tái tạo (NLTT) gần 8%, nhập khẩu điện và nguồn khác khoảng 3%.

- Theo quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020, có xét đến năm 2030 (Quy hoạch điện VII điều chỉnh), tổng công suất đặt của hệ thống khoảng 129.500 MW. Trong đó thủy điện chiếm gần 16,9%, nhiệt điện than khoảng 42,6%, nhiệt điện khí khoảng 14,7%, tỷ lệ của thủy điện nhỏ và năng lượng tái tạo khoảng 21%, nhập khẩu điện khoảng 1,2%. Với nhu cầu điện thương phẩm năm 2030 là trên 500 tỷ kWh (gấp gần 3 lần năm 2018), có thể thấy rằng việc đảm bảo đủ điện là sức ép lớn trong đầu tư nguồn (và lưới) điện.

Về nguồn điện, chúng ta có thủy điện, nhiệt điện (than, khí), năng lượng tái tạo, điện hạt nhân và điện nhập khẩu từ các nước:

+ Việt Nam có thuận lợi về thủy điện, với giá thành thấp nhất. Tuy nhiên, hiện nay các dự án thủy điện  lớn và vừa trên các dòng sông đã được quy hoạch, về cơ bản đã được đầu tư và khai thác hết. Các dự án thủy điện nhỏ, có chi phí, giá thành cao đang được từng bước đầu tư và khai thác.

+ Các nhà máy nhiệt điện khí hiện nay sử dụng nguồn khí trong nước. Trữ lượng các mỏ khí này đang bắt đầu suy giảm, từ 2019-2020 phải tìm kiếm nguồn khí bổ sung. Trong Quy hoạch điện 7 hiệu chỉnh, đã bổ sung nguồn khí hóa lỏng LNG nhập khẩu cung cấp cho các dự án điện phía Nam (Nhơn Trạch, Sơn Mỹ...). Các dự án điện khí thường có giá điện cao, theo tính toán sơ bộ, các dự án điện khí sử dụng khí khai thác trong nước (Lô B, Cá Voi xanh) có giá điện trung bình khoảng 2.300 – 2.500 đồng/kWh. Còn dự án sử dụng khí LNG nhập khẩu, giá điện hiện nay khoảng 10 UScent/kWh và phụ thuộc vào giá LNG trên thị trường thế giới.  

+ Đối với năng lượng tái tạo, chủ yếu điện gió và điện mặt trời tập trung ở một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên... và không đảm bảo ổn định cấp điện, do phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. Giá điện năng lượng tái tạo như hiện nay (điện mặt trời khoảng 2.100 đ/kWh và điện gió khoảng 1.900-2.200 đ/kWh) cũng là khá cao, chưa tính đến đầu tư bộ lưu trữ điện. Để phát triển năng lượng tái tạo, cần tiếp tục có cơ chế khuyến khích phát triển cùng các giải pháp đồng bộ về hệ thống truyền tải.

+ Điện hạt nhân đã dừng đầu tư.

+ Về nhập khẩu điện, Việt Nam đã mua điện từ Trung Quốc và hiện đang đàm phán để mua điện từ phía Lào. Nhưng với tỉ trọng nhỏ khoảng 1% và điều kiện mua, giá điện cũng còn gặp nhiều vấn đề.

+ Theo quy hoạch, nguồn nhiệt điện than chiếm tỉ trọng cao nhất trong cơ cấu nguồn điện (chiếm khoảng 42,6% công suất và sản xuất khoảng 53% điện năng toàn hệ thống), và đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo cung cấp điện cho phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030 và các năm sau. Về chi phí đầu tư và giá điện than: ở mức chấp nhận được (cao hơn thủy điện nhưng thấp hơn điện khí và năng lượng tái tạo).

Như vậy, việc phát triển các nguồn điện than trong thời gian tới là cần thiết nhằm đảm bảo cung cấp đủ điện cho phát triển, giá điện phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và thu nhập người dân. Dự kiến trong giai đoạn tới, mỗi năm hệ thống cần bổ sung 8.000 MW đến 10.000 MW thì nhiệt điện than cần bổ sung từ 3.200 MW đến 4.500 MW. Tuy nhiên vấn đề phát triển nhiệt điện than cần phải xem xét cẩn trọng, áp dụng các công nghệ hiện đại và có các giải pháp để đảm bảo yêu cầu về an toàn môi trường. 

2. Về công nghệ và đảm bảo môi trường của nhà máy nhiệt điện than:

- Hiện nay, Việt Nam có 28 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành, với tổng công suất khoảng 18.000 MW, có tỉ trọng khoảng 39% trong cơ cấu nguồn điện. Đa số các nhà máy nhiệt điện than đang vận hành sử dụng công nghệ (thông số hơi) cận tới hạn (Sub- Super Critical) có hiệu suất dưới 40% và hai nhà máy sử dụng công nghệ siêu tới hạn (SC) có hiệu suất có thể đến 42%. Các nhà máy nhiệt điện than đang xây dựng và chuẩn bị đầu tư đều được áp dụng công nghệ SC và công nghệ trên siêu tới hạn (USC) có hiệu suất cao, phát thải thấp (hiệu suất có thể đạt đến 45%).

- Các dự án nhiệt điện than đều lắp đặt các hệ thống xử lý khói và nước thải đảm bảo đáp ứng các yêu cầu theo tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành về an toàn môi trường khí và nước thải. Các dự án nhà máy điện khi xây dựng đều phải lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường đáp ứng yêu cầu và được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt.

- Hiện nay, các nhà máy nhiệt điện than đã lắp đặt hệ thống giám sát online kết nối với Sở Tài nguyên môi trường của địa phương để thực hiện giám sát thường xuyên về môi trường, đồng thời các Bộ và cơ quan chức năng cũng định kỳ kiểm tra việc thực hiện công tác đảm bảo an toàn môi trường của nhà máy điện theo kế hoạch, phương án được phê duyệt.

- Trong quá trình thực hiện đầu tư các dự án nhiệt điện than theo Quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Công Thương đã yêu cầu các chủ đầu tư tuân thủ các quy định pháp luật về đầu tư xây dựng, quy định về đảm bảo môi trường, đồng thời lựa chọn công nghệ, thiết bị hiện đại. Kiên quyết không chấp thuận việc phát triển các dự án với công nghệ cũ, lạc hậu và không đảm bảo an toàn môi trường. Bộ Công Thương đã ban hành Chỉ thị 11/CT-BCT ngày 19 tháng 10 năm 2016 về việc tăng cường công tác bảo vệ môi trường ngành Công Thương, đặc biệt đối với môi trường các nhà máy điện và thường xuyên kiểm tra, yêu cầu các chủ đầu tư nhà máy điện phải thực hiện nghiêm các quy định để đảm bảo an toàn môi trường. Đồng thời thường xuyên tổ chức các đoàn kiểm tra công tác đảm bảo an toàn môi trường tại các nhà máy nhiệt điện trong cả quá trình xây dựng và vận hành nhà máy.

3. Định hướng quy hoạch phát triển điện lực Việt Nam giai đoạn tiếp theo

Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021-2030, có xét đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII, dự kiến trình Thủ tướng Chính phủ trong năm 2020). Trong quá trình xây dựng Quy hoạch điện VIII, sẽ xem xét, tính toán để xác định cơ cấu các loại nguồn điện (thủy điện, nhiệt điện than, nhiệt điện khí, năng lượng tái tạo…) phù hợp để đảm bảo các mục tiêu: i) cung cấp đủ điện, ổn định, an toàn; ii) giá điện hợp lý; iii) đảm bảo môi trường. 

Nội dung 2:

Bộ Công Thương tiếp tục quan tâm đề xuất phát triển hợp lý nguồn năng lượng tái tạo, nhất là điện mặt trời có tiềm năng khá lớn, đảm bảo các nguyên tắc như sau:

- Chủ trương tập trung cho những nơi có tiềm năng và lợi thế, có điều kiện phát triển tốt để đảm bảo hiệu quả chung của nền kinh tế; ưu tiên khuyến khích phát triển hợp lý điện mặt trời trên mái nhà với ưu điểm không yêu cầu diện tích chiếm đất và đầu tư lưới điện truyền tải đấu nối; phát triển điện mặt trời có cân nhắc, tính toán dài hạn nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược, đảm bảo quy mô phát triển hợp lý từng thời ký gắn với bảo vệ môi trường.

- Phát triển điện mặt trời đảm bảo tuân thủ quy hoạch và đảm bảo cân bằng hệ thống điện, tránh phát triển ồ ạt gây tác động lớn đến giá thành sản xuất điện toàn hệ thống, đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước-Nhà đầu tư-Người dân.

- Nghiên cứu hình thức đấu thầu công khai, minh bạch, cạnh tranh để giảm giá mua điện từ các dự án điện mặt trời, để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt.

Nội dung 3:

Tình trạng vi phạm về sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ thời gian qua vẫn diễn biến phức tạp. Ngoài việc làm giả các mặt hàng của các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới, các đối tượng còn làm giả cả các mặt hàng được tiêu thụ tốt do các doanh nghiệp trong nước sản xuất, giả xuất xứ hàng hóa Việt Nam để đưa hàng từ nước ngoài vào trong nước tiêu thụ gây thiệt hại cho nền kinh tế, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, triệt tiêu sáng tạo của các doanh nghiệp có uy tín thương hiệu trên thị trường. Nhóm mặt hàng được các đối tượng tập trung làm giả chủ yếu là thực phẩm, thực phẩm chức năng, quần áo, đồ thời trang, đồ gia dụng, điện tử - điện máy, hàng tiêu dùng...

Thủ đoạn của các đối tượng sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng xâm phạm sở hữu trí tuệ rất đa dạng. Đối với hàng hoá đòi hỏi sử dụng công nghệ cao, khó sản xuất thì các đối tượng thường đặt sản xuất gia công ở nước ngoài sau đó chuyển về Việt Nam tiêu thụ; đối với hàng hoá không đòi hỏi kỹ thuật cao, mẫu mã đơn giản, giá rẻ phù hợp với đa số người lao động có thu nhập thấp thường được sản xuất ngay trong nước, tại các khu công nghiệp, làng nghề,… Hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được bán trà trộn với hàng thật hoặc đưa về vùng sâu, vùng xa tiêu thụ, ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chân chính.

Trước tình hình trên, ngay từ năm 2018, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 334/QĐ-BCT phê duyệt Kế hoạch đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm trong sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo xuất xứ tại các địa bàn trọng điểm đến hết năm 2020; đồng thời, chỉ đạo lực lượng Quản lý thị trường bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo 389 quốc gia để xây dựng, triển khai các phương án kế hoạch trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng hàng giả, không rõ nguồn gốc xuất xứ.

Thời gian qua, lực lượng Quản lý thị trường đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng liên quan như Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ; Cục An toàn thực phẩm thuộc Bộ Y tế; Cục Bảo vệ thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Cục Xuất bản, in và phát hành thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông; các đơn vị thuộc Bộ Công an… tổ chức kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm góp phần ngăn chặn giảm thiểu các đối tượng công khai sản xuất, kinh doanh hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Một số kết quả nổi bật thời gian gần đây đã được Ban Chỉ đạo 389 quốc gia ghi nhận biểu dương đó là: “đã tấn công được vào những điểm nóng, đường dây, ổ nhóm về hàng giả, hàng lậu lớn mà trước đây chưa xử lý được như 02 Trung tâm thương mại bán hàng giả tại Móng Cái, Quảng Ninh; các điểm nóng về sản xuất và kinh doanh hàng giả tại Hà Nội (chợ Ninh Hiệp, Phú Xuyên) và tại TPHCM (chợ Bến Thành, Sài Gòn square); kiểm tra xử lý các kho, cửa hàng bán hàng giả, hàng nhái các thương hiệu nổi tiếng thế giới tại Hưng Yên, Hải Phòng, Nha Trang…”.

Mặc dù lực lượng quản lý thị trường và các lực lượng chức năng đã có nhiều cố gắng trong công tác kiểm tra, xử lý vi phạm, tuy nhiên kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng trước diễn biến phức tạp trên thị trường. Công tác phòng chống hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn nhiều mặt hạn chế, bất cập và khó khăn. Cụ thể:

- Phương thức, thủ đoạn vi phạm ngày càng tinh vi: các đối tượng vi phạm có sự phân công chặt chẽ, hình thành các đầu mối chuyên cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, đầu mối chuyên cung cấp các loại bao bì, tem, nhãn giả; hàng giả được sản xuất dưới dạng gia công sản phẩm chưa hoàn chỉnh (bán sản phẩm) ở một nơi, sau đó đặt gia công ở một nơi khác để lắp ráp, đóng gói thành phẩm. Sau khi có đơn đặt hàng mới được gắn nhãn mác giả mạo nhãn hiệu, nguồn gốc xuất xứ hàng hóa và giao liền cho khách hàng đặt mua. Sản xuất đến đâu tiêu thụ đến đó, không cất trữ chờ tiêu thụ;... Tình trạng hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có nguồn gốc nước ngoài, gian lận thương mại, cạnh tranh không lành mạnh, kinh doanh hàng giả, xâm phạm quyền sở trí tuệ thông qua mạng internet ngày càng phổ biến và diễn biến phức tạp. 

- Đối tượng vi phạm ngày càng đa dạng, trà trộn với các khu dân cư, các làng nghề, vùng nông thôn, xuất hiện ngay cả tại các khu công nghiệp, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các hợp tác xã, thông qua internet (cá nhân, hộ gia đình)... nên rất khó phát hiện; các đối tượng vi phạm trong nước móc nối với các đối tượng ở nước ngoài để làm hàng giả, nhất là giả mạo xuất xứ, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đưa vào Việt Nam,

- Một số doanh nghiệp, chủ thể bị xâm phạm chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình với cộng đồng, với sản phẩm của mình đang lưu thông trên thị trường, chưa tích cực hợp tác với lực lượng chức năng. Bên cạnh đó, do hạn chế về nguồn lực nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều thách thức, khó khăn trong công tác phòng chống hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

- Ý thức cộng đồng về hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn nhiều hạn chế, nhất là các hộ kinh doanh nhỏ, tiểu thương, người dân ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. 

- Nguồn kinh phí, trang thiết bị, phương tiện và nhân lực của Quản lý thị trường phục vụ công tác kiểm tra, kiểm soát chống hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn hạn chế; kinh phí giám định, tiêu hủy hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ chưa được đảm bảo,…

Dự báo trong thời gian tới tình hình buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả vẫn diễn biến phức tạp, đặc biệt là tình trạng sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng liên quan đến sức khỏe người dân như thuốc chữa bệnh, dược phẩm, thực phẩm, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm và các mặt hàng quần áo, đồ thời trang, đồ gia dụng, điện tử - điện máy, hàng tiêu dùng... Để quản lý chặt chẽ và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, Bộ Công Thương cùng các Bộ ngành, địa phương tiếp tục duy trì thường xuyên việc kiểm tra, đôn đốc lực lượng chức năng thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm đã đề ra:

- Tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo 389 quốc gia về công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.

- Chủ động nắm vững diễn biến tình hình hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả theo lĩnh vực, địa bàn phụ trách để kịp thời phát hiện, nhận diện các vấn đề nổi cộm, các lĩnh vực mặt hàng vi phạm mới nổi để kịp thời đấu tranh ngăn chặn, xử lý.

- Xây dựng, triển khai đồng bộ các phương án, chuyên đề, kế hoạch tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đặc biệt là Bộ đội biên phòng, Hải quan tăng cường kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn hàng lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng ngay từ tuyến biên giới đường biển và đường bộ; chú trọng kiểm tra, ngăn chặn, xử lý việc sản xuất, vận chuyển, buôn bán hàng hàng giả các thương hiệu nổi tiếng trong nước và nước ngoài trên thị trường nội địa, nhất là tại các địa bàn trọng điểm như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh...; Kiên quyết xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm; thực hiện tốt chế độ thông tin, báo cáo để có thông tin kịp thời, chính xác phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành; tổ chức kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các chương trình, kế hoạch để rút kinh nghiệm, đề ra các giải pháp đấu tranh phù hợp với tình hình thực tiễn.

- Rà soát, phân loại các website, ứng dụng thương mại điện tử, nhất là đối với các nhóm mặt hàng kinh doanh có điều kiện hoặc nhóm mặt hàng xuất hiện nhiều hàng giả hàng nhái được kinh doanh qua mạng như: mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, thời trang, quần áo, túi xách, đồng hồ…

- Rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách liên quan đến công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, bảo đảm tính khả thi và theo sát với tình hình thực tế; tạo thuận lợi cho các lực lượng chức năng trong thực thi nhiệm vụ.

- Tăng cường kỷ cương, kỷ luật công vụ, phòng chống các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng của công chức thực thi; khen thưởng, động viên, nêu gương kịp thời đối với tập thể, cá nhân có thành tích, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, bao che, tiếp tay cho buôn lậu.

- Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu; xem xét, xử lý trách nhiệm người đứng đầu, lãnh đạo, cơ quan chức năng và công chức trực tiếp quản lý địa bàn nếu để xảy ra tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ phức tạp, nghiêm trọng kéo dài, gây bức xúc trong nhân dân mà không có giải pháp khắc phục kiên quyết, hiệu quả.

- Đẩy mạnh hơn nữa công tác truyền thông, đa dạng về hình thức tuyên truyền để nâng cao ý thức người dân về tác hại của hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ đối với xã hội và kêu gọi mọi người không bao che, tiếp tay cho hành vi này. Phát động toàn dân tham gia tố giác các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. Công tác tuyên truyền phải được làm thường xuyên, liên tục, tăng cường thông tin tuyên tuyền kết quả của các lực lượng chức năng kết hợp phổ biến kiến thức pháp luật đến người dân…

- Tăng cường hợp tác với các Hiệp hội ngành nghề, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong công tác chia sẻ, cung cấp thông tin và hỗ trợ kiểm tra, xử lý vi phạm về hàng giả, hàng kém chất lượng, không rõ nguồn gốc xuất xứ.

Bộ Công Thương xin trân trọng cảm ơn Đại biểu Tô Thị Bích Châu và Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh./.