Bộ trưởng Bộ Công Thương trả lời Đại biểu Hồ Thanh Bình, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang

Nội dung 1: Trong thời gian qua, vai trò của Bộ Công Thương như thế nào trong việc phối hợp và hỗ trợ ngành nông nghiệp xây dựng chuỗi giá trị nông sản và phát triển thị trường? Xin nêu vài ví dụ chuỗi giá trị nông sản cụ thể?

Nội dung 2: Phân tích chuỗi giá trị hàng hóa và nông sản xuất khẩu của vùng Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy chi phí vận tải tăng thêm (có thể ước lượng từ 10 - 40%) và tốn kém thời gian vận chuyển cho các doanh nghiệp do phải vận chuyển xa đến các cảng ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh và Cái Mép. Xin hỏi Bộ trưởng nghĩ gì về định hướng xây dựng cảng nước sâu cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long để nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả xuất khẩu nông sản, hàng hóa cho vùng cũng như góp phần thu hút đầu tư cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới?

Nội dung 3: Trong 10 năm qua, Việt Nam luôn nhập siêu từ Trung Quốc. Riêng nhóm các mặt hàng nông sản thì Việt Nam xuất siêu. Là khách hàng nhập siêu trong cán cân này nhưng Việt Nam chưa phát huy được lợi thế của một “thượng đế”, nhất là những lúc nông sản gặp khó khăn, sách nhiễu trong xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc. Xin hỏi Bộ trưởng có giải pháp gì để giảm nhập siêu đối với thị trường Trung Quốc? Và giải pháp nào để tạo lợi thế phòng ngừa rủi ro ở vị thế thị trường khách hàng mỗi khi bị gây khó khăn, sách nhiễu trong xuất khẩu nông sản đối với thị trường Trung Quốc?

 

Nội dung 1:

1. Về công tác xây dựng chính sách phát triển hệ thống phân phối, nhằm hỗ trợ và đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa nói chung, nông sản thực phẩm tại thị trường trong nước và quốc tế:

Để hỗ trợ phát triển hệ thống phân phối các mặt hàng nói chung, mặt hàng nông, lâm, thủy, hải sản nói riêng, thời gian qua Bộ Công Thương đã chú trọng công tác nghiên cứu, xây dựng, ban hành và thực hiện một số chính sách, pháp luật như:

- Xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 51/2018/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2006/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa, hỗ trợ tiêu thụ các mặt hàng nông sản.

- Xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt Chiến lược phát triển thương mại trong nước giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035.

- Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng Nghị định về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp (Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05 tháng 7 năm 2018 của Chính phủ).

2. Về phối hợp, hỗ trợ phát triển thị trường:

- Quá trình phát triển và hội nhập của Việt Nam thời gian qua đã mở ra cơ hội thị trường rộng lớn cho hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam nói chung và các loại nông sản hàng hóa nói riêng. Xác định nông nghiệp là khu vực mà Việt Nam có nhiều thế mạnh, tiềm năng phát triển và có vai trò quan trọng trong phát triển bền vững kinh tế - xã hội của đất nước, vì vậy trong quá trình đàm phán hội nhập, Bộ Công Thương và các Bộ, ngành liên quan khác luôn đặt mục tiêu để đạt được phương án tốt nhất cho hàng hóa nông sản của Việt Nam có được điều kiện tốt nhất để xuất khẩu. Ta đã làm tốt công tác đàm phán để cắt giảm thuế quan nhập khẩu vào các nước tạo điều kiện tốt nhất cho nông sản của ta tiếp cận các thị trường thông qua việc đàm phán, ký kết 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương. Nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam đóng vai trò quan trọng và khẳng định được vị trí vững chắc trên thị trường thế giới (hiện ta đã xuất khẩu các mặt hàng này sang hơn 200 nước và vùng lãnh thổ, trong đó một số mặt hàng như gạo, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, tôm, cá tra, đồ gỗ… đã chiếm thị phần khá lớn trên thế giới).

  - Bộ Công Thương đã và đang nỗ lực triển khai những công việc cần thiết để thực thi các FTA và hỗ trợ doanh nghiệp khai thác lợi ích của các FTA như nội luật hóa các cam kết; tuyên truyền về tiến trình hội nhập và giải thích các cam kết; nghiên cứu, đánh giá tác động của các FTA, cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa công tác cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O), áp dụng cơ chế tự chứng nhận xuất xứ để tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp xuất khẩu... Số liệu thống kê cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam đã tận dụng tốt cơ hội do các FTA đem lại, xuất khẩu vào các thị trường có FTA đang ngày càng tăng.  

- Bộ  Công Thương cũng đã tích cực phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc giải quyết các vấn đề nhằm đưa nông sản của Việt Nam vượt qua những rào cản kỹ thuật, tiếp cận thị trường. Cụ thể, ta đã hoàn tất việc thâm nhập thị trường mới cho một số trái cây của Việt Nam như thanh long, chôm chôm, nhãn, vải, vú sữa, xoài vào Hoa Kỳ; vải, xoài, thanh long, nhãn vào Úc; sản phẩm sữa, măng cụt vào Trung Quốc và sắp tới, dự kiến đầu năm 2020 là khoai lang tím, thạch đen, tổ yến; thịt gà chế biến vào Nhật Bản; tôm, xoài, thanh long vào Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand...; đặc biệt là ta đã kiện và đã thắng kiện Hoa Kỳ tại WTO trong vụ áp thuế chống bán phá giá bất hợp lý đối với tôm, cá tra xuất khẩu của Việt Nam; trong vụ tăng mức giá nhập khẩu tối thiểu MIP, tăng mức thuế suất thuế nhập khẩu cơ sở BCD bất hợp lý với điều nhân, hồ tiêu vào Ấn Độ, với vụ áp thuế tự vệ đối với gạo vào Philippines...

- Bộ Công Thương thường xuyên tổ chức tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng cao nhận thức của các cơ quan quản lý và nông dân, ngư dân cũng như doanh nghiệp xuất khẩu về chuỗi cung ứng sản xuất, chế biến, xuất khẩu, cách thức nâng cao tỷ lệ tận dụng ưu đãi của các Hiệp định thương mại tự do (FTA), bao gồm cả các FTA thế hệ mới như CPTPP, RCEP… góp phần vào tăng trưởng xuất khẩu bền vững nông sản Việt Nam.

- Bộ Công Thương thường xuyên theo dõi, cập nhật tình hình diễn biến giá cả, tiến độ xuất khẩu các mặt hàng nông sản, những biến động của thị trường thế giới, nghiên cứu dự báo tình hình thị trường xuất khẩu, nhập khẩu để kịp thời thông báo tới Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhằm định hướng quy hoạch, tổ chức lại sản xuất phù hợp với diễn biến cung cầu; đồng thời phổ biến, hướng dẫn các Hiệp hội, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, thông qua nhiều hình thức, nhằm chủ động tổ chức kế hoạch sản xuất, kinh doanh cho phù hợp, kịp thời chuẩn bị, ứng phó với những biến động của thị trường. Bộ Công Thương thường xuyên đăng tải, công bố “Bản tin thị trường nông, lâm, thủy sản” trên chuyên trang của Cổng Thông tin điện tử Bộ Công Thương định kỳ hàng tuần; liên tục tuyên truyền, khuyến cáo về sự thay đổi trong chính sách và thực thi chính sách của Trung Quốc suốt từ đầu năm 2018 đến nay; biên soạn, phát hành cuốn Sổ tay “Một số thông tin cần biết khi xuất khẩu nông, thủy sản sang thị trường Trung Quốc”...

- Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thường xuyên phối hợp với các địa phương vùng trồng để cung cấp thông tin về nhu cầu, thị hiếu, đưa ra cảnh báo cần thiết về các quy định mới của phía Trung Quốc.

- Bộ Công Thương tổ chức các đoàn kết nối, giao thương giữa doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp Trung Quốc, trước hết là doanh nghiệp ở hai tỉnh Quảng Tây và Vân Nam. Việc tham gia đều đặn Hội chợ CAEXPO cũng giúp các doanh nghiệp của chúng ta mở rộng thị trường, tìm được bạn hàng, nâng cao kim ngạch; Tổ chức tuyên truyền để các doanh nghiệp chuyển sang thương mại theo phương thức chính ngạch, theo tập quán quốc tế. Tập huấn cho doanh nghiệp các kiến thức về thương mại quốc tế như hợp đồng, thanh toán, điều kiện giao hàng, bao bì đóng gói, thương hiệu, nhãn hiệu...

3. Về phối hợp, hỗ trợ xây dựng chuỗi giá trị nông sản:

Thực tế hiện nay, ngành nông nghiệp nước ta vẫn còn thiếu sự liên kết theo chuỗi giá trị, từ khâu sản xuất, thu gom, chế biến, phân phối, tiêu thụ, xuất khẩu; thiếu sự liên kết sản phẩm theo vùng, theo địa phương, trong đó doanh nghiệp tiêu thụ chưa được coi là yếu tố hạt nhân, then chốt, dẫn đến việc tổ chức sản xuất nông nghiệp chưa hiệu quả; việc tổ chức liên kết 5 nhà: nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, nông dân, ngân hàng triển khai chưa thực sự đạt được hiệu quả; bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn còn chưa phát triển, dẫn đến phát sinh nhiều chi phí sản xuất làm tăng giá thành, cước phí vận chuyển hàng không và chi phí bảo quản của ta còn cao so với các nước khác, giảm sức cạnh tranh của sản phẩm.

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ Công Thương cũng đã triển khai các công tác phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các địa phương, các tổ chức, đơn vị liên quan để hỗ trợ xây dựng chuỗi giá trị nông sản trong thời gian qua nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm nông sản Việt Nam. Một số công tác cụ thể của Bộ Công Thương như sau: (i) Đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai khuyến khích doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo xây dựng vùng nguyên liệu, phát triển hợp tác, liên kết sản xuất với người nông dân gắn liền với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn, ký hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ thóc, gạo với người nông dân, tham gia các chương trình xúc tiến thương mại, xây dựng quảng bá hình ảnh, thương hiệu của sản phẩm... để phát triển xuất khẩu gạo một cách bền vững, đặc biệt trong bối cảnh thị trường khó khăn như hiện nay; (ii) Đã phối hợp với các tỉnh Bắc Giang, Sơn La trong việc chủ động kết nối, mời các doanh nghiệp nước ngoài ký kết hợp đồng với doanh nghiệp trong nước, hỗ trợ hướng dẫn, giám sát quá trình thu mua, đóng gói đáp ứng tốt yêu cầu của nước nhập khẩu nhằm hạn chế tình trạng bị động vào thị trường, chủ động trong công tác tổ chức sản xuất, xuất khẩu các loại trái cây (nhãn, vải thiều, xoài) sang thị trường Trung Quốc, do đó hiện đã không còn hiện tượng bị ép cấp, ép giá; (iii) Đã và đang tăng cường triển khai các hoạt động hỗ trợ như đào tạo tập huấn kỹ năng xúc tiến xuất khẩu, cung cấp thông tin thị trường, tư vấn lựa chọn sản phẩm, tư vấn phát triển mẫu mã sản phẩm; (iv) Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, thu hút đầu tư và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực logistics, tăng cường khuyến khích hợp tác giữa các doanh nghiệp logistics như chia sẻ hàng hóa, qua đó cân đối luồng hàng vận chuyển hai chiều nhằm nỗ lực tiết kiệm chi phí logistics cho vận chuyển nông sản tiêu thụ và xuất khẩu...

Trong bối cảnh rào cản về thuế quan đã được dỡ bỏ nhiều như hiện nay, khi ta làm tốt công tác đàm phán công nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn kỹ thuật, duy trì và đảm bảo chất lượng hàng hóa đáp ứng tiêu chuẩn của các thị trường, đồng thời xây dựng và tổ chức tốt chuỗi giá trị nông sản, xuất khẩu nông sản của Việt Nam sẽ ghi nhận được những bứt phá mới, hiện thực hóa các lợi thế về đàm phán mở cửa thị trường mà Việt Nam đã nỗ lực thực hiện trong thời gian qua, góp phần phát triển bền vững xuất khẩu nông sản trong tình hình mới.

4.  Một số ví dụ chuỗi giá trị nông sản cụ thể:

- Bộ Công Thương đã chủ trì và phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố (trực tiếp chỉ đạo và phối hợp với Sở Công Thương) triển khai tổ chức nhiều Hội nghị, Hội thảo như: (i) Hội nghị góp ý Đề án tổ chức Hội chợ xúc tiến thương mại và đầu tư năm 2018 do Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh tổ chức; (ii) Hội nghị kết nối tiêu thụ dưa hấu và các mặt hàng nông sản trong và ngoài nước tại tỉnh Quảng Ngãi (tháng 4 năm 2018); Hội nghị kết nối tiêu thụ nông sản trong và ngoài nước tại Kiên Giang (tháng 3 năm 2019); (iii) các Hội nghị xúc tiến tiêu thụ vải thiều và nông sản (gồm: Hội nghị xúc tiến tiêu thụ vải thiều và các nông sản năm 2018, 2019 tại tỉnh Bắc Giang, Tuần lễ vải thiều Lục Ngạn tại Hà Nội, Hội nghị xúc tiến tiêu thụ vải thiều của tỉnh Bắc Giang tại Thị Bằng Tường, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc); Tuần lễ vải thiều Thanh Hà – Hải Dương tại Hà Nội. Các Hội nghị đã tổ chức đều rất thành công, gắn kết được các nhà phân phối, kinh doanh nông sản trong và ngoài nước với các doanh nghiệp, Hợp tác xã, bà con nông dân sản xuất nông sản, từ đó, tạo điều kiện cho việc tiêu thụ nông sản thuận lợi, hiệu quả.

- Bộ Công Thương đã phối hợp và hỗ trợ các địa phương trong công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản như đối với quả vải của tỉnh Bắc Giang, quả Xoài của tỉnh An Giang, quả Thanh Long của tỉnh Bình Thuận... nhiều địa phương đã chủ động vận dụng và xây dựng các Đề án đẩy mạnh chuỗi cung ứng nông sản, hoạt động kết nối cung cầu hàng hóa như: Sơn La, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hưng Yên, Hải Dương, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, An Giang, Hậu Giang, Phú Yên, Khánh Hòa, Đắk Nông...

- Hỗ trợ tỉnh Quảng Ninh tổ chức Hội chợ OCOP Khu vực phía Bắc - Quảng Ninh năm 2018, trong đó có Hội nghị kết nối tiêu thụ sản phẩm OCOP Quảng Ninh với hệ thống phân phối. Đồng thời, chủ động làm việc với hệ thống phân phối lớn (Big C, Coopmart...) về việc hỗ trợ, tạo điều kiện xây dựng các mô hình sản suất nông sản theo chuỗi để cung cấp trong hệ thống bán lẻ của mình.

Nội dung 2:

Đồng bằng sông Cửu Long có kim ngạch xuất khẩu chủ yếu từ sản phẩm gạo và thủy sản chế biến. Hàng năm, nhu cầu vận chuyển hàng hóa xuất khẩu của vùng khoảng 17-18 triệu tấn.

Tuy nhiên, 70% hàng hóa xuất khẩu này phải chuyển tải về các cảng lớn ở Tp. Hồ Chí Minh và cảng Cái Mép (Bà Rịa - Vũng Tàu) khiến chi phí vận tải doanh nghiệp cao hơn từ 10-40% tùy từng tuyến. Thực trạng này khiến tình trạng quá tải diễn ra thường xuyên trên các tuyến giao thông kết nối từ Tp. Hồ Chí Minh đến các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Để giải quyết bài toán này, việc đầu tư phát triển hạ tầng giao thông cho khu vực cần được chú trọng và có hướng đi hợp lý. Theo đó, việc đầu tư cho đường thủy sẽ phát huy lợi thế địa hình của vùng. Đồng bằng sông Cửu Long có tổng chiều dài đường thủy hơn 15.000km, gần 60 cảng thủy nội địa và gần 4.000 bến thủy nội địa. Tuy nhiên, trên 85% các cảng phân tán, manh mún, phần lớn chỉ có công suất xếp dỡ nhỏ hơn 10.000 tấn/năm, chưa có bến gom hàng cho các cảng thủy nội địa lớn trong vùng.

Về xây dựng cảng nước sâu, do đặc điểm sông Cửu Long nhiều phù sa nên các cửa biển chính bị bồi lắng, không cho phép tàu dung lượng lớn vào sâu trong nội địa. Do đó, các cảng trong nội địa như Cái Cui, Mỹ Thới, Hoàng Diệu đều chưa phát huy được năng lực, ảnh hưởng đến khả năng lưu thông hàng hóa tại khu vực này.

Hiện nay, Bộ Giao thông vận tải đang triển khai nghiên cứu việc điều chỉnh quy hoạch hệ thống cảng biển Sóc Trăng và bến cảng Trần Đề trong quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Mục tiêu khi đi vào hoạt động là đáp ứng cho tàu trọng tải 50.000 - 100.000 DWT và trên 100.000 DWT. Khu vực nghiên cứu bến cảng Trần Đề có diện tích dự kiến rộng khoảng 30.000ha từ cửa Trần Đề đến cửa Mỹ Thanh. Độ sâu của cảng dự kiến khoảng từ -10m đến -12m. Trong trường hợp cảng Trần Đề đáp ứng được điều kiện để quy hoạch và xây dựng sẽ giúp hàng hóa xuất nhập khẩu vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ được vận chuyển với cự ly gần hơn, giảm chi phí vận tải, nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư cho toàn vùng.

Nội dung 3:

- Trung Quốc hiện giữ vị trí là đối tác thương mại lớn nhất, là thị trường nhập khẩu và nhập siêu lớn nhất, đồng thời là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam (sau Hoa Kỳ). Trên cơ sở lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, với tình hình thực hiện các dự án công nghiệp trong nước, việc thực thi các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương cũng như sự quyết tâm của Chính phủ nhằm đẩy nhanh phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ…, vấn đề nhập siêu từ Trung Quốc đang dần được cải thiện. Kể từ năm 2015 đến nay, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt mức cao 33,5%/năm, trong khi tốc độ nhập khẩu từ Trung Quốc tăng hơn 10%/năm, nhập siêu từ Trung Quốc giảm bình quân trên 16,1% trong 2 năm 2016, 2017 và năm 2018 tiếp tục giảm 7,2%. Trong 10 tháng năm 2019, nhập siêu đã có dấu hiệu quay lại, tăng mạnh 45,6% so với cùng kỳ năm 2018 do xuất khẩu đang có sự giảm tốc, đặc biệt là đối với nhóm hàng nông, thủy sản.

Nguyên nhân sụt giảm kim ngạch xuất khẩu: (i) Sự sụt giảm nhu cầu tiêu thụ nội địa của Trung Quốc do tình hình kinh tế trong những tháng đầu năm 2019 của nước này không khởi sắc; (ii) Tác động từ cuộc xung đột thương mại Hoa Kỳ - Trung Quốc dẫn tới xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm nhập khẩu nông, thủy sản làm nguyên liệu để chế biến và tái xuất khẩu, đồng NDT cũng giảm giá; (iii) Tác động của các chính sách mới và việc thực thi chính sách từ năm 2018 của các cơ quan quản lý phía Trung Quốc đối với nông, thủy sản nhập khẩu từ Việt Nam qua tuyến biên giới đất liền như tăng cường các biện pháp kiểm nghiệm, kiểm dịch, an toàn thực phẩm nhập khẩu; siết chặt chính sách thương mại biên giới, thu hẹp diện mặt hàng trao đổi cư dân biên giới; tăng cường giám sát, truy xuất nguồn gốc, quy cách đóng gói, vệ sinh an toàn thực phẩm,...

- Để góp phần giảm nhập siêu đối với thị trường Trung Quốc, cần phải coi thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu là giải pháp chủ yếu, lâu dài. Bộ Công Thương đã và đang triển khai các giải pháp: (i) Thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, sản phẩm chế biến, chế tạo, giảm dần tỷ trọng hàng xuất khẩu thô thông qua việc thực hiện có hiệu quả các quy hoạch phát triển ngành; (ii) Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, phát triển thị trường, trong đó, chú trọng đẩy mạnh xuất khẩu vào các nước khu vực châu Á, nhất là Trung Quốc để từng bước giảm mức chênh lệch thương mại; (iii) Xây dựng các biện pháp kỹ thuật phù hợp với các cam kết quốc tế để hạn chế nhập khẩu các hàng hóa kém chất lượng, ảnh hưởng đến môi trường, sức khỏe người dân, hàng hóa tiêu dùng xa xỉ; (iv) Phát triển mạnh và có hiệu quả công nghiệp phụ trợ; (v) Củng cố thị trường trong nước, xây dựng cơ chế phù hợp, hiệu quả khuyến khích sử dụng hàng Việt Nam, đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; (vi) Rà soát cơ cấu đầu tư, tiếp tục nghiên cứu đề xuất cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư sản xuất hàng hóa xuất khẩu và hàng hóa thay thế nhập khẩu, hạn chế đầu tư vào khu vực phi sản xuất…

- Đối với việc tháo gỡ khó khăn, phòng ngừa rủi ro phát sinh và hỗ trợ phát triển xuất khẩu nông, thủy sản bền vững sang thị trường Trung Quốc, trong thời gian qua, Bộ Công Thương đã tích cực, chủ động thông tin, khuyến cáo về diễn biến tình hình thị trường cũng như các yếu tố tác động đến cung cầu, thị hiếu, tiêu chuẩn… của thị trường Trung Quốc tới các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp bằng nhiều hình thức; thường xuyên tổ chức tập huấn cho doanh nghiệp các kiến thức về thương mại quốc tế như hợp đồng, thanh toán, điều kiện giao hàng, bao bì đóng gói, thương hiệu, nhãn hiệu... và gần nhất, đã tổ chức Hội nghị “Phát triển xuất khẩu hàng hóa nông thủy sản sang thị trường Trung Quốc” vào ngày 13/9/2019 để cùng phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp rà soát, đánh giá tình hình và bàn các biện pháp tháo gỡ khó khăn, định hướng tổ chức lại sản xuất đáp ứng đúng yêu cầu của Trung Quốc, góp phần tận dụng tốt các lợi thế từ Hiệp định ACFTA để phát triển xuất khẩu nông, thủy sản bền vững sang thị trường này. Bộ Công Thương cũng đã biên soạn, phát hành Sổ tay hướng dẫn xuất khẩu nông thủy sản sang thị trường Trung Quốc và một số Cẩm nang, Tạp chí hướng dẫn chuyên ngành gửi tới các địa phương nuôi trồng, xuất khẩu trọng điểm, các hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp xuất khẩu và các cơ quan truyền thông báo chí để nắm bắt và có kế hoạch xuất khẩu phù hợp, đáp ứng đúng yêu cầu của thị trường, tránh gây tình trạng ùn ứ trong nước và ảnh hưởng đến tiến độ xuất khẩu.

Hiện nay, thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ Công Thương đang tiếp tục triển khai các công tác sau: (i) Trao đổi, vận động phía Trung Quốc tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi hoặc dành thời gian “quá độ” cho các chính sách mới; (ii) Vận động các cơ quan chức năng, chính quyền các địa phương phía Trung Quốc (đặc biệt là Quảng Tây, Vân Nam) mở thêm các cửa khẩu chỉ định nhập khẩu nông sản, trái cây tại khu vực biên giới; (iii) Phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải đẩy nhanh tiến độ xây dựng các hạ tầng logistics như kho lạnh ở Trà Lĩnh (Cao Bằng), khu trung chuyển ở Lạng Sơn, trung tâm logistics ở Bắc Giang; (iv) Đa dạng hóa hình thức xúc tiến thương mại hàng năm tại Trung Quốc theo hướng tập trung trọng tâm, trọng điểm với từng chủng loại sản phẩm; (v) Tăng cường tuyên truyền, phổ biến trên toàn quốc về lợi thế trong các Hiệp định, Thỏa thuận giữa hai nước và diễn biến thông tin thị trường để kịp thời có biện pháp ứng phó với vướng mắc phát sinh.

Bộ Công Thương xin trân trọng cảm ơn Đại biểu Hồ Thanh Bình và Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang.