Bộ trưởng Bộ Công Thương trả lời Đại biểu Phạm Văn Hùng, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Cao Bằng

 “Bộ trưởng có đề cập tới nguy cơ Việt Nam thiếu điện trầm trọng trong những năm tới. Trong khi đó, theo Báo cáo của Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, có tới 47/62 dự án điện có công suất lớn, chậm tiến độ, có cả những dự án đã đủ cơ sở pháp lý và tính khả thi như Dự án nhiệt điện khí Bạc Liêu mà nhiều đại biểu đã nêu. Đề nghị Bộ trưởng cho biết nguyên nhân và trách nhiệm của Bộ trưởng đối với sự chậm trễ này. Bộ trưởng có những giải pháp gì để khắc phục trong thời gian tới?”

 

Hiện nay, các dự án nguồn điện được thực hiện theo 3 hình thức đầu tư, gồm: các dự án do các tập đoàn nhà nước như Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đòan Dầu khí Việt Nam (PVN), Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) là chủ đầu tư; các dự án đầu tư theo hình thức BOT; các dự án đầu tư theo hình thức IPP. Tổng hợp tình hình tiến độ thực hiện 62 dự án có công suất lớn trên 200 MW thì 15 dự án đạt tiến độ, còn lại 47 dự án chậm tiến độ hoặc chưa xác định tiến độ so với tiến độ nêu trong Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia.

Các dự án nguồn và lưới điện chậm tiến độ so với kế hoạch, nhất là các dự án nguồn điện lớn ở khu vực miền Nam như Long Phú I, Sông Hậu I, Duyên Hải II, Vân Phong 1… đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cung ứng điện và xuất hiện nguy cơ thiếu điện trong giai đoạn tới, nhất là từ cuối năm 2020 đến năm 2025. Các dự án nguồn điện chậm tiến độ gồm cả các dự án do EVN, PVN, TKV đầu tư, do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức Hợp đồng BOT và do doanh nghiệp tư nhân trong nước đầu tư; chậm tiến độ các dự án xảy ra ở tất cả các khâu từ chuẩn bị đầu tư, thu xếp vốn và thực hiện đầu tư xây dựng.

Các nguyên nhân dẫn đến các dự án bị chậm tiến độ, bao gồm: Việc huy động vốn cho các dự án khó khăn; Chưa có chế tài ràng buộc trách nhiệm của các chủ đầu tư khi thực hiện chậm trễ các dự án quan trọng; Sự phối hợp của các địa phương trong công tác triển khai các dự án điện chưa đồng bộ, thiếu quyết liệt, một số trường hợp các địa phương điều chỉnh các quy hoạch trên địa bàn tỉnh ảnh hưởng đến việc thực hiện quy hoạch điện; Công tác quản lý nhà nước trong quá trình đầu tư, xây dựng còn bất cập; Quy định của pháp luật còn chồng chéo, chưa rõ ràng, thiếu cơ chế đặc thù cho phát triển ngành điện; Kế hoạch, tiến độ thực hiện, xác định nguồn lực một số dự án điện chưa rõ ràng; Nhiều vướng mắc trong đàm phán các dự án BOT khiến thời gian phát triển dự án kéo dài; Nguyên nhân khách quan do lệnh cấm vận (Dự án NMNĐ Long Phú I, Nhà thầu bị cấm vận bởi Chính phủ Mỹ); Cơ chế giá điện chưa đột phá, chậm thay đổi, chưa có giá điện hai thành phần, giá mua điện theo miền, theo khu vực để đưa ra tín hiệu định hướng đầu tư và phát triển phụ tải; năng lực của các nhà đầu tư cũng như nhà thầu trong nước còn hạn chế cả về tài chính và kỹ thuật;...

Bộ Công Thương đã khẩn trương, quyết liệt trong việc thúc đẩy các giải pháp nhằm đảm bảo cung cấp điện cho phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, có nhiều vấn đề xuất phát từ nguyên nhân khách quan và nhiều vấn đề không thuộc phạm vi chức năng nhiệm vụ của Bộ, nhiều vấn đề vượt thẩm quyền của Bộ Công Thương, các vấn đề này đã được Bộ Công Thương báo cáo Thủ tướng Chính phủ để chỉ đạo giải quyết.

Trong thời gian tới, Bộ Công Thương với vai trò là cơ quan quản lý ngành, tiếp tục bám sát để có những điều chỉnh, chỉ đạo kịp thời trong thẩm quyền của mình, báo cáo những vấn đề vượt thẩm quyền nhằm tháo gỡ khó khăn cho các dự án điện; nghiên cứu các cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển ngành điện (như các cơ chế phát triển năng lượng tái tạo, cơ chế đặc thù cho các dự án điện cấp bách đang trình Thủ tướng Chính phủ).

Bộ Công Thương mong muốn các Bộ ngành liên quan, đặc biệt là các địa phương tích cực phối hợp với Bộ Công Thương nhằm thúc đẩy các dự án điện, đảm bảo cung ứng điện an toàn, đầy đủ.

Bộ Công Thương xin trân trọng cảm ơn Đại biểu Phạm Văn Hùng và Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Cao Bằng.