Truy cập nội dung luôn

Tổng hợp các vấn đề chủ yếu trong Họp báo thường kỳ Bộ Công Thương

20/05/2020

Ngày 15 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Bộ Công Thương, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải, Người phát ngôn của Bộ Công Thương đã chủ trì cuộc họp báo thường kỳ của Bộ. Tại buổi họp báo, Bộ Công Thương đã cung cấp các thông tin về tình hình sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại trong tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2020.

Kết quả đạt được của ngành Công Thương trong 4 tháng đầu năm như sau:

Tình hình chung

Đến cuối tháng 4/2020, dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nặng nề tới hầu hết các nền kinh tế trên thế giới, trong đó có các đối tác thương mại lớn của Việt Nam như: Mỹ, EU, Nhật Bản, ASEAN. Đến nay, đại dịch đã lan ra hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. IMF (14/4/2020)dự báo nền kinh tế toàn cầu sẽ giảm 3% trong năm 2020, giảm 6,3 điểm phần trăm so với dự báo tháng 1/2020; WTO (8/4/2020) cảnh báo cuộc khủng hoảng do dịch Covid-19 gây ra lần này có thể sẽ vượt xa so với khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009. Ước tính, xuất nhập khẩu hàng hóa toàn cầu trong năm 2020 có thể giảm 13%, thậm chí giảm đến 32% so với năm 2019.Các chỉ số tăng trưởng của nhiều quốc gia đã ghi nhận sụt giảm rõ ràng. Điều này cho thấy nguy cơ các nền kinh tế sẽ tiếp tục suy thoái nặng nề trong quý II/2020 và có thể vượt mức các chuyên gia kinh tế dự báo.

Về sản xuất công nghiệp và thương mại Việt Nam 4 tháng năn 2020

Bước sang tháng 4, tác động của dịch bệnh tới hoạt động sản xuất công nghiệp và xuất nhập khẩu của Việt Nam đã bắt đầu thể hiện rõ.

Về tình hình sản xuất công nghiệp

- Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 4 ước tính giảm 13,3% so với tháng 3 và giảm 10,55% so với cùng kỳ năm trước và là mức giảm duy nhất của tháng 4 trong giai đoạn 2016-2020. Trong đó ngành khai khoáng giảm 10,7%; ngành chế biến, chế tạo giảm 11,3%; sản xuất và phân phối điện giảm 6,9%; cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 2% so với cùng kỳ năm 2019.

Tính chung 4 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp IIP chỉ tăng 1,8%, là mức tăng thấp nhất trong nhiều năm qua (năm 2019 tăng 9,2%; năm 2018 tăng 10,7%; năm 2017 tăng 6,6%; năm 2016 tăng 7,4%). Trong đó:

+ Ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo chỉ tăng 3%. Trong đó:

Một số ngành có chỉ số sản xuất 4 tháng đầu năm giảm sâu hoặc tăng rất thấp so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất xe có động cơ giảm 14,2% (cùng kỳ tăng 18,6%); sản xuất đồ uống giảm 13,9% (cùng kỳ tăng 11,6%); chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 8,8% (cùng kỳ tăng 13,8%); sản xuất trang phục giảm 6,3% (cùng kỳ tăng 8,8%); dệt chỉ tăng 1,4% (cùng kỳ tăng 12,1%); ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 0,5% (cùng kỳ tăng 8,4%).

+ Ngành khai khoáng giảm 6,8% (4 tháng/2016 giảm 1,6%; 4 tháng/2017 giảm 9,7%; 4 tháng/2018 giảm 1,2%; 4 tháng/2019 bằng cùng kỳ năm trước) chủ yếu do khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm. Tính chung 4 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp ngành khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 10,8% (cùng kỳ giảm 4,1%).

+ Ngành sản xuất, phân phối điện tăng nhẹ 2,9% so với cùng kỳ. Sản lượng điện sản xuất tháng 4 giảm 9,7% so với tháng trước và giảm 7% so với cùng kỳ. Điện thương phẩm tháng 4 ước đạt 16.600 triệu kWh, giảm 2,7% so với tháng 3 và giảm 6,8% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2020, sản lượng điện sản xuất ước đạt 71.676,2 triệu kWh, tăng nhẹ 3% so với cùng kỳ năm 2019; điện thương phẩm ước đạt 65.882,3 triệu kWh, tăng 2,7% so với cùng kỳ.

Việc giảm phụ tải góp phần giảm áp lực cho ngành điện trong việc đảm bảo điện trong tháng 4. Dù vậy, ngành điện vẫn liên tục cập nhật và dự báo nhu cầu sử dụng điện, đồng thời chuẩn bị các kịch bản khác nhau có tính đến việc nền kinh tế sẽ hồi phục sau dịch bệnh nhằm kịp thời ứng phó trong các tháng nắng nóng sắp tới và đáp ứng nhu cầu sử dụng điện một cách tốt nhất.

Về tình hình xuất nhập khẩu

Bước sang quý II, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức do nhu cầu hàng hóa sụt giảm mạnh

- Xuất khẩu:

+ Trong tháng 4/2020, kim ngạch xuất khẩu hầu hết các nhóm hàng đều sụt giảm so với tháng 3/2020. Trong đó:

Nhóm hàng công nghiệp chế biến giảm 20% so với tháng trước, ước đạt 14,42 tỷ USD. Sự sụt giảm được thể hiện rõ ở các ngành hàng chính của nhóm hàng công nghiệp chế biến như: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 17,7% so với tháng 3/2020, đạt 3,0 tỷ USD; điện thoại các loại và linh kiện giảm 52,9%, đạt 2,5 tỷ USD; hàng dệt và may mặc giảm 31,2%, đạt 1,6 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác giảm 16,0%, đạt 1,65 tỷ USD; giày dép các loại giảm 13,5%, đạt 1,2 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 29,3%, đạt 697 triệu USD...

Do lo ngại việc tạm dừng xuất, nhập khẩu ở các thị trường lớn đang có dịch Covid-19 diễn biến phức tạp nên các doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động xuất, nhập khẩu trong 10 ngày cuối tháng Ba, trong đó Công ty Samsung gần như đã hoàn thành xuất khẩu sản phẩm điện thoại phiên bản mới. Sang tháng 4 kim ngạch xuất khẩu ước tính giảm mạnh 27,1% so với tháng trước và giảm 13,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2020, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ước đạt 80,86 tỷ USD, tăng 2,0% so với cùng kỳ năm 2019 (cùng kỳ tăng 6,5%). 

Kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản giảm 57,9% so với tháng 3/2020, đạt 128 triệu USD; Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông, lâm, thủy sản giảm 6,4% so với tháng 3/2020, ước đạt 2,03 tỷ USD.

+ Các thị trường hàng hóa xuất khẩu trong tháng 4 với các nước đối tác lớn của Việt Nam đều bị sụt giảm so với tháng trước do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Trong đó, thị trường ASEAN giảm 20% so với tháng 3/2019; Trung Quốc giảm 12,0%; Nhật Bản giảm 20,6%; Hàn Quốc giảm 16,5%; EU giảm 32,2%; Hoa Kỳ giảm 25,9%...

- Nhập khẩu:

Xuất khẩu chậm lại cũng kéo theo kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước, ước đạt 78,08 tỷ USD (cùng kỳ tăng 10,7%).

- Cán cân thương mại: Ghi nhận xuất siêu 2,78 tỷ USD cao hơn nhiều so với con số thặng dư đạt 983 triệu USD của 4 tháng đầu năm 2019.

Như vậy, các chỉ tiêu về xuất nhập khẩu 4 tháng đầu năm đều cho thấy chịu tác động khá lớn từ dịch Covid-19. Tuy nhiên, đánh giá trong bối cảnh chung cho thấy hầu hết các quốc gia trong khu vực đều ghi nhận mức tăng trưởng xuất khẩu âm (trong khi họ chịu tác động của dịch bệnh sau ta) thì việc Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu dương và bảo đảm thặng dư cán cân thương mại trong 4 tháng đầu năm là một kết quả cho thấy nỗ lực rất lớn của địa phương và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. (Trong 3 tháng đầu năm 2020 kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc giảm 1,39%; Nhật Bản giảm 5,5%; Singapore giảm 3,3%; Ấn Độ giảm 12,7%...).

Về thương mại nội địa:

Dịch Covid-19 đã tác động mạnh mẽ tới hoạt động thương mại, dịch vụ trong tháng4/2020, hoạt động mua sắm hàng hóa, chi tiêu của người tiêu dùng giảm mạnh, nhiều cơ sở lưu trú, ăn uống, lữ hành phải tạm đóng cửa trong thời gian giãn cách xã hội. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4 giảm 20,52% so với tháng trước và giảm 26% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,3%). 4 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 4,27% so với cùng kỳ năm trước – là mức giảm đầu tiên trong vòng nhiều năm qua. (Tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 4 tháng các năm 2015-2019 lần lượt là: 10,7%; 10%; 10%; 11,3%; 11,9%).

Về các giải pháp phòng chống dịch bệnh và thúc đẩy sản xuất kinh doanh

Trong thời gian qua, Bộ Công Thương đã triển khai thực hiện nghiêm túc, tích cực các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch Covid-19. Theo đó, Bộ đã chủ động xem xét, ban hành nhiều Chỉ thị, Quyết định để chỉ đạo triển khai thực hiện nhiều giải pháp nhằm vừa phòng, chống dịch bệnh, vừa tháo gỡ khó khăn thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Hiện nay, tình hình dịch bệnh đang ở giai đoạn kiểm soát tốt hơn, để chủ động triển khai công việc của Bộ trong thời gian tới, kịp thời có các biện pháp vừa tiếp tục phòng chống dịch vừa thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, Bộ Công Thương đã thành lập Tổ Công tác để xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động của ngành Công Thương nhằm khôi phục và thúc đẩy phát triển công nghiệp, thương mại trong giai đoạn mới phòng, chống dịch Covid-19.

Mục tiêu của việc xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động này là:

(1)  Tiếp tục phòng, chống hiệu quả dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virút Corona (Covid-19) trong các cơ quan, đơn vị thuộc ngành Công Thương trong giai đoạn mới;

(2) Nhanh chóng khôi phục và thúc đẩy phát triển các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, thương mại, bảo đảm thực hiện ở mức cao nhất mục tiêu tăng trưởng của năm 2020 và tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng ở những năm tiếp theo.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ BÁO CHÍ QUAN TÂM TẠI CUỘC HỌP BÁO

Trong khuôn khổ họp báoThứ trưởng Đỗ Thắng Hải, Người phát ngôn của Bộ Công Thương và đại diện các Đơn vị thuộc Bộ đã trả lời một số câu hỏi của phóng viên báo chí. Nội dung cuộc họp báo xoay quanh các vấn đề chính, bao gồm: vấn đề về giá điện, về giá bán thịt lợn, về vấn đề gạo, giải pháp gỡ khó khăn trong tiêu thụ vải xuất khẩu và trong nước, về đề xuất giảm một số loại thuế phí ô tô lắp ráp trong nước để kích cầu cầu thị trường, về vấn đề cấm nhập khẩu xăng dầu...

- Nhóm câu hỏi về vấn đề giá điện (Phóng viên Khánh Huyền – Đài Truyền hình Việt Nam - VTV24; Ngọc An – Tuổi trẻ; Thanh Phong – Báo điện tử Dân Việt)

1. Liên quan đến giá điện, được biết mới đây Bộ Công Thương có tờ trình Chính phủ  thí điểm bán điện tái tạo tại trực tiếp khách hàng, xin hỏi Bộ với dự án này thí điểm ở đâu, bao nhiêu hộ? Khi thí điểm giá điện được mua có rẻ hơn hiện nay hay không? Có một số ý kiến cho rằng hiện vẫn  chưa có thị trường riêng cho truyền tải điện, chưa có tư nhân hóa ngành điện dù có bán trực tiếp tới khách hàng thì giá chưa thực sự cạnh tranh và rẻ. Ý kiến của Bộ thế nào?

2. Liên quan đến giá điện, rất hoan nghênh  Bộ Công Thương đã chỉ đạo giảm giá bán điện trong 3 tháng, tuy nhiên  theo kết luận của Thủ tướng Chính phủ, có tính toán … liệu việc giảm giá bán điện có gây nên lỗ treo đó không? lỗ treo đó có tạo áp lực cho năm sau không? Bộ Công Thương thông tin thêm về tình hình cung ứng điện hiện nay, từ nay đến cuối năm như  thế nào, việc sửa đổi giá bán điện, khi nào sửa giá bán lẻ điện, người dân cứ đến hẹn lại lên kêu rất nhiều?

3. EVN đề xuất giảm giá điện trong dịch Covid-19 sau đó lại xin miễn giảm thuế phí, xin Bộ Công Thương đánh giá thêm về vấn đề này?

Phó Cục trưởng Cục Điều tiết điện lực Trần Tuệ Quang trả lời:

Bộ Công Thương vừa qua đã có văn bản yêu cầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), các Sở Công Thương chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện giảm giá điện, giảm tiền điện để giảm khó khăn cho người dân, doanh nghiệp, người sử dụng điện trước tác động của dịch Covid-19. Về vấn đề lỗ treo trong ngành điện, để đảm bảo, trong năm 2020 Bộ Công Thương sẽ tổ chức giám sát chặt chẽ các đơn vị điện lực, EVN cũng như các đơn vị thành viên để đảm bảo tiết giảm chi phí, việc thực hiện giá điện luôn được công khai minh bạch... Trong quý III, IV, theo định kỳ và theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, chúng tôi sẽ tổ chức kiểm tra giá thành sản xuất kinh doanh điện sau đó sẽ công bố thông tin, công khai minh bạch cho dư luận hiểu rõ về tình hình hoạt động của ngành điện.

Về tình hình cung ứng điện trong năm 2020, do tác động dịch bệnh và việc thực hiện giãn cách xã hội trong thời gian vừa qua, tình hình phụ tải điện có giảm so với kế hoạch mà Bộ Công Thương đặt ra từ đầu năm. Tình hình thủy văn từ đầu năm 2020 có nhiều khó khăn. Tình hình cung ứng nguyên liệu như than, khí cũng gặp khó khăn. Hệ thống cung cấp khí cũng có sự cố gây ảnh hưởng đến khả năng cấp khí cho phát điện. Bộ Công Thương đã và đang tiếp tục chỉ đạo EVN và các đơn vị điện lực thường xuyên cập nhật kế hoạch cung cấp điện của hệ thống, bám sát tình hình thủy văn và nhu cầu phụ tải thực tế từ nay đến cuối năm, đảm bảo sẵn sàng cho các nhà máy điện với khả năng cao nhất, bám sát tình hình cung ứng nhiên liệu, triển khai các biện pháp cấp bách phòng chống hạn hán, phối hợp vận hành các hồ thủy điện đảm bảo cung cấp điện an toàn và góp phần đảm bảo nước cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt ở hạ du.

Về câu hỏi tiếp theo sửa đổi cơ cấu biểu giá bán lẻ điện, từ tháng 6/2018, Bộ Công Thương đã có tờ trình báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề xuất sửa đổi cơ cấu biểu giá bán lẻ điện. Đầu năm 2019, cũng có yêu cầu của Phó Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công Thương phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu làm rõ bối cảnh, sự phù hợp với tình hình thực tế của biểu giá bán lẻ điện mà chủ yếu là biểu giá bán lẻ sinh hoạt để đề xuất điều chỉnh, sửa đổi. Do yêu cầu cập nhật tình hình tiêu thụ điện, Bộ Công Thương đang tiếp tục nghiên cứu phối hợp với EVN, tổng hợp sửa đổi cơ cấu biểu giá bán lẻ điện để trình Thủ tướng ban hành vào cuối năm nay. Sau khi Thủ tướng phê duyệt, Bộ Công Thương sẽ ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện giá bán điện cho các đối tượng khách hàng sử dụng điện.

Trả lời câu hỏi của phóng viên Khánh Huyền VTV24, hỏi về Bộ Công Thương đang thí điểm bán điện tái tạo trực tiếp cho khách trong thời gian qua vừa qua, từ đầu năm 2020 Bộ Công Thương đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét cơ chế thí điểm mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và khách hàng sử dụng điện. Theo cơ chế đang trình, các nhà máy điện năng lượng tái tạo đủ điều kiện bán điện trực tiếp cho khách hàng sử dụng điện, thông qua lưới điện truyền tải, lưới điện phân phối. Khách hàng sử dụng điện tham gia chương trình thí điểm là khách hàng lớn. Các khách hàng lớn mua điện trực tiếp từ đơn vị phát điện do hai bên thỏa thuận với nhau. Việc thí điểm cơ chế mua bán điện thông qua lưới điện truyền tải và lưới điện phân phối sẽ tạo tiền đề cho việc triển khai thị trường điện bán lẻ các giai đoạn sau.

Với câu hỏi tại sao vừa qua Bộ Công Thương có văn bản cho phép giảm giá điện để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân trong tình hình dịch bệnh. Tuy nhiên EVN có văn bản đề nghị miễn giảm một số phí, thuế?

Thực tế các nghĩa vụ thuế phí của các nhà máy điện cũng đều phải được chuyển thành các chi phí cấu thành giá bán lẻ điện cuối cùng. Thuế phí EVN phải thanh toán cho các đơn vị điện lực, trong đó có cả các nhà máy điện không thuộc EVN. Các đơn vị điện lực thanh toán, nộp đầy đủ thuế phí theo nghĩa vụ cho cơ quan thuế. EVN và các đơn vị điện lực đều là doanh nghiệp, có nghĩa vụ nộp đầy đủ các loại thuế phí cho cơ quan thuế. EVN đề xuất miễn giảm thuế phí với mục đích xin giảm khó khăn cho tất cả các đơn vị điện lực. Việc EVN có văn bản xin hỗ trợ miễn giảm thuế phí là ý kiến của doanh nghiệp. Việc miễn giảm thuế phí này sẽ do các cơ quan chức năng có thẩm quyền xem xét nếu thấy phù hợp.

- Phóng viên Khánh Huyền – Đài Truyền hình Việt Nam (VTV24):

Liên quan đến giá bán thịt lợn, khi Thủ tướng Chính phủ yêu cầu đưa giá lợn hơi về giá 60-70.000/kg, nhưng thực tế người tiêu dùng đi mua vẫn rất cao. Người tiêu dùng thắc mức tại sao truyền hình đưa giá thịt lợn giảm mà chợ không giảm. Được trả lời là lên ti vi mà mua, giá giảm. Xin hỏi Bộ Công Thương, với giá thịt lợn cao như vậy do các doanh nghiệp không hạ giá lợn hơi hay do thương lái, khâu trung gian ăn lãi quá nhiều và trách nhiệm cũng như giải pháp của Bộ về vấn đề này?

Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước Lê Việt Nga trả lời:

Giá thịt lợn vẫn là vấn đề nóng từ khi có dịch tả lợn châu Phi năm 2019 tới nay, được Chính phủ, các Bộ ngành, địa phương, quan tâm, vào cuộc chỉ đạo, điều hành. Từ cuối 2019, lồng ghép với công tác bình ổn thị trường, Vụ TTTN đã trình lãnh đạo Bộ ký nhiều văn bản gửi các địa phương về công tác bình ổn thị trường dịp Tết, cũng như trong giai đoạn chống dịch Covid-19 để bình ổn thị trường các mặt hàng thiết yếu, trong đó có bình ổn thị trường mặt hàng thịt lợn.

Ngày 17/3, thừa ủy quyền của Lãnh đạo Bộ, Vụ đã ký văn bản gửi Sở Công Thương các tỉnh, thành phố Trung ương về việc thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về bình ổn mặt hàng thịt lợn; yêu cầu các địa phương chỉ đạo và có biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia chương trình bình ổn thị trường; các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mặt hàng thịt lợn trên địa bàn tập trung nguồn lực, tiết giảm chi phí sản xuất kinh doanh, giảm giá thành sản xuất nông sản và giá bán sản phẩm, bình ổn thị trường mặt hàng thịt lợn. Đồng thời, có kế hoạch đảm bảo nguồn cung trong thời gian tới.

Ngoài ra, Vụ cũng đề nghị các Sở Công Thương theo dõi sát biến động giá cả mặt hàng thịt lợn, cũng như các sản phẩm khác đồng thời có báo cáo hàng ngày về Vụ.

Thịt lợn là mặt hàng có chuỗi cung ứng rất đặc biệt, có sự tham gia của nhiều bộ ngành, nhiều loại hình doanh nghiệp và chính vì vậy, tại kết luận họp ban chỉ đạp điều hành giá ngày 21/4, Thủ tướng Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho từng Bộ ngành, cụ thể:

Giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng kế hoạch tái đàn cụ thể, tổ chức chăn nuôi theo từng vùng, từng khu vực chăn nuôi (doanh nghiệp, hộ gia đình) với lộ trình cụ thể, thời gian theo từng tháng để sớm đảm bảo nguồn cung đáp ứng đủ nhu cầu trong nước ngay đầu quý III. Theo dõi, tổng hợp, phân tích và đưa ra số liệu cụ thể về dự kiến lượng lợn thịt (đủ tiêu chuẩn xuất chuồng theo quy định để giết mổ, cung cấp ra thị trường) trong từng tháng để từ đó chủ động có phương án điều hòa cung - cầu thịt lợn.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ - Trưởng ban Chỉ đạo điều hành giá về kết quả thực hiện định kỳ hàng tháng từ nay đến hết quý III; đồng gửi Bộ Tài chính - cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo để tổng hợp chung. Chỉ đạo các doanh nghiệp chăn nuôi lớn thực hiện đúng cam kết về giảm giá bán lợn hơi và việc cung ứng số lượng lợn hơi. Đồng thời, chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Bộ Công an theo chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước kiểm tra giá thành lợn hơi tại các doanh nghiệp chăn nuôi lớn; nếu có hiện tượng lợi dụng tình hình dịch bệnh để thao túng giá thì thực hiện xử lý nghiêm, kịp thời theo quy định pháp luật và yêu cầu doanh nghiệp giảm giá lợn hơi về mức hợp lý như chỉ đạo trên.

Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương kiểm soát tốt tình hình dịch bệnh, trên cơ sở đó đôn đốc các địa phương rà soát, công bố hết dịch để hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho người chăn nuôi yên tâm tái đàn, thúc đẩy chăn nuôi hộ gia đình, tăng đàn bù đắp nguồn cung thiếu hụt; tăng cường việc nhân giống, cung ứng lợn giống có chất lượng với giá cả hợp lý và an toàn dịch bệnh cho người dân để thực hiện tái đàn, tăng đàn phù hợp với dự báo về cầu và giá cả theo mục tiêu, kế hoạch đề ra. Đồng thời, đẩy mạnh vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh, xây dựng các chuỗi đảm bảo cung ứng thịt lợn trong mùa dịch và ổn định thị trường trong năm 2020 và các năm tiếp theo.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Bộ Công Thương, các bộ, ngành chức năng và các doanh nghiệp nhập khẩu đảm bảo nhập đủ số lượng thịt còn thiếu theo đúng tinh thần chỉ đạo của lãnh đạo Chính phủ để bổ sung thịt lợn thiếu hụt trên thị trường từ nay đến quý III, không để thiếu nguồn cung thực phẩm quan trọng này trong mọi trường hợp, nhất là trong bối cảnh dịch Covid-19 hiện nay. Trên cơ sở kế hoạch tái đàn, phát triển sản xuất và sản lượng thịt lợn sản xuất trong nước hàng tháng, đánh giá cụ thể tình hình cung cầu để báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề xuất phương án điều hòa cung cầu, trong đó có tính đến tiếp tục nhập khẩu bù đắp nguồn cung thiếu hụt (nếu cần thiết).

Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Tài chính theo dõi sát diễn biến giá cả mặt hàng thức ăn chăn nuôi là đầu vào cho sản xuất, chăn nuôi lợn để kịp thời thực hiện theo thẩm quyền hoặc đề xuất trình Chính phủ giải pháp bình ổn giá thức ăn chăn nuôi góp phần giảm bớt khó khăn cho chăn nuôi lợn nói riêng và ngành chăn nuôi nói chung. Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành chức năng nghiên cứu, nếu cần thiết kiến nghị đưa mặt hàng thịt lợn vào danh mục thực hiện bình ổn giá theo quy định pháp luật về giá gửi Bộ Tài chính tổng hợp đề xuất.

Về phía Bộ Công Thương, có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, Ban Chỉ đạo 389 và các cơ quan chức năng có liên quan kiểm tra, rà soát, đánh giá thực trạng hệ thống kênh phân phối, cung ứng, lò mổ và đầu mối bán buôn, bán lẻ đối với mặt hàng thịt lợn tính từ cửa trại, cửa chuồng của doanh nghiệp, người chăn nuôi đến doanh nghiệp, siêu thị, người bán cuối cùng trực tiếp cung ứng cho người tiêu dùng. Từ đó, làm rõ những bất cập, hạn chế và đề xuất giải pháp khắc phục những bất cập và xử lý vi phạm theo pháp luật (nếu có) trong khâu lưu thông, phân phối nhằm giảm thiểu các khâu trung gian gây tác động tiêu cực làm đẩy chi phí lưu thông trong giá bán tăng lên tiến tới hoàn thiện một hệ thống phân phối, bán buôn bán lẻ tinh gọn hiệu quả đáp ứng nhu cầu thị trường, giảm tầng nấc trung gian, giảm chi phí trong khâu lưu thông về mức hợp lý trong cơ cấu giá bán hàng, đảm bảo hài hòa lợi ích người sản xuất, khâu lưu thông phân phối, người tiêu dùng.

Chỉ đạo lực lượng quản lý thị trường từ trung ương đến địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động mua bán của các thương nhân mua bán thịt lợn và xử lý nghiêm các trường hợp găm hàng, đẩy giá cao; giám sát chặt chẽ, hạn chế tối đa và xử lý nghiêm việc buôn bán, vận chuyển, xuất nhập khẩu lợn sống và thịt lợn trái phép.

Chỉ đạo Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phối hợp, khuyến khích yêu cầu các doanh nghiệp phân phối, bán buôn, bán lẻ, các siêu thị triển khai chương trình bình ổn mặt hàng thịt lợn. Mở rộng cung ứng ra thị trường bán lẻ từ nguồn thịt lợn nhập khẩu từ các cơ sở sản xuất trong nước và đơn vị nhập khẩu, định hướng người tiêu dùng tiêu thụ sản phẩm thịt từ nguồn nhập khẩu.

Chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao chỉ đạo cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp Việt Nam tìm kiếm các nguồn hàng hợp lý để thúc đẩy việc nhập khẩu thịt lợn.

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và lãnh đạo Bộ, thời gian qua, Vụ TTTN đã và đang phối hợp với Sở Công Thương và các hệ thống siêu thị lớn, cửa hàng tiện lợi để tổ chức các sự kiện bình ổn thị trường thịt lợn như: chuỗi ngày bán giảm giá thịt lợn trong các dịp lễ, đặc biệt trong thời gian diễn ra dịch bệnh Covid-19 của SaigonCoop, BigC, Vinmart,... Tại TP HCM, chính quyền cũng đưa mặt hàng thịt lợn vào danh mục mặt hàng bình ổn thị trường; sở Công Thương TP Hồ Chí Minh cũng đã có chỉ đạo các doanh nghiệp cung ứng và phân phối thịt lợn tham gia vào Chương trình Bình ổn thị trường cần xem xét để giảm chiết khấu, giảm tầng nấc trung gian để đưa hàng từ nơi giết mổ đến hệ thống siêu thị với giá cả hợp lý. Một số siêu thị đã nhập khẩu trực tiếp mặt hàng thịt lợn, cố gắng tìm các mặt hàng có giá tốt nhất và bảo đảm chất lượng an toàn thực phẩm từ các thị trường như Mỹ, Nga, Brazil và một số thị trường khác từ châu Âu như Ba Lan để tìm nguồn hàng thịt lợn giá hợp lý, giảm bớt kênh trung gian, đưa về phân phối trực tiếp trong hệ thống phân phối của mình. Cụ thể, một số siêu thị đã làm tốt điều này trong thời gian qua như Bách hóa xanh, MM Mega Market, BigC..., một số siêu thị khác cũng đang tìm nguồn hàng để giảm bớt trung gian. Nhờ vậy, nhiều mặt hàng thịt lợn nhập khẩu trong hệ thống phân phối đã có giá cả giảm hơn 20-30% so với thịt lợn trong nước, hỗ trợ thị trường thịt lợn trong nước đang gặp nhiều khó khăn, khan hiếm nguồn cung, giá thịt lợn tăng cao vì phải chịu các tác động của dịch bệnh tả lợn châu Phi đã làm tăng chi phí phòng chống dịch, đảm bảo nguồn thức ăn chăn nuôi lợn và chi phí thuốc thú y, con giống trong thời gian qua. Thời gian tới, Vụ Thị trường trong nước chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp bình ổn thị trường thịt lợn bằng nhiều giải pháp khác nhau nữa.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải trả lời:

Bản chất của vấn đề giá thịt lợn hiện nay là vấn đề cung - cầu, nguồn cung đang thiếu rất rõ. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, riêng năm 2019 so với năm 2018 đã thiếu 20-21% tổng thể đàn lợn cũng như sản lượng thịt cung cấp cho thị trường. 3 tháng năm 2020 so với cùng kỳ năm 2019 lại tiếp tục thiếu 20% nữa. Tuy nhiên, theo phản ánh của một số địa phương, như Bắc Giang, cả lợn giống và lợn thịt thiếu đến 50%, thậm chí trên 50%. Đây là thực tế không phải chỉ ở một tỉnh, thành mà còn xảy ra ở nhiều tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Trong khi hiện nay trên cả nước (63 tỉnh, thành) vẫn còn 17-18 tỉnh thành địa phương chưa công bố hết dịch, vì vậy người nông dân, các hộ chăn nuôi chưa yên tâm để tái đàn, nguồn cung đang rất thiếu. Kể cả một số hộ đang muốn tập trung tái đàn thì lại gặp 2 vấn đề khó khăn. Thứ nhất, họ không có vốn để đầu tư tái đàn, thứ 2, kể cả có, thì con giống rất đắt, một con lợn giống có giá khoảng hơn 2,5 triệu/con, thậm chí hơn 3 triệu/con. Người chăn nuôi tính toán nếu không hiệu quả, họ sẽ không tái đàn. Chính vì vậy, nguồn cung đã thiếu lại càng thiếu. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cho phép nhập khẩu lợn giống từ đời cụ, kị, ông, bà. Có hai cách khắc phục để tăng cung. Một là tái đàn, đây là biện pháp tối ưu, cơ bản nhất, bền vững nhất, tạo công ăn việc làm cho người chăn nuôi, nhưng không phải một lúc có thể bù đắp được lượng thiếu. Theo tính toán của các địa phương, các DN, khi chúng tôi hỏi trực tiếp DN và một số địa phương, sớm nhất là phải hết năm nay, tức là Quý IV/2020 nếu không có gì đột biến thì lượng lợn xuất ra thị trường, mới có thể tương đương khi chưa có dịch. Như vậy, từ nay tới cuối năm, nguồn cung còn thiếu; Hai là nếu nguồn cung vẫn còn thiếu thì phải nhập khẩu để bù đắp. Hiện nay, Thủ tướng đã có chỉ đạo yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn từng tháng phải có kế hoạch cụ thể lượng thịt lợn cần bao nhiêu, hiện có thể đáp ứng cung cấp bao nhiêu và còn lại phải nhập khẩu bao nhiêu. Còn nếu nguồn cung trong nước tăng lên, phải giảm nhập khẩu để bảo vệ cho bà con chăn nuôi, các hộ nông dân. Chúng ta phải thực hiện theo cơ chế thị trường giữa cung và cầu.

Về phía Bộ Công Thương, Bộ đã và đang vẫn phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kể cả trong việc tìm nguồn nhập khẩu thịt lợn. Bộ Công Thương đã chỉ đạo các Thương vụ Việt Nam tại các nước giới thiệu những đầu mối nhập khẩu đảm bảo chất lượng, giá cả phong phú, có sự chọn lựa để doanh nghiệp trong nước có thể nhập khẩu. Các doanh nghiệp nhập khẩu thịt lợn không cần qua bất cứ Bộ nào khác, chỉ duy nhất qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Thú y, Chi cục thú y vùng) để làm giấy phép, sau đó mang ra cơ quan hải quan để làm thủ tục nhập khẩu. Bộ Công Thương mong muốn cuối năm nay, tình hình về thịt lợn sẽ trở lại bình thường như trước khi có dịch Tả lợn châu Phi. Bộ Công Thương đã chỉ đạo lượng Quản lý thị trường, Ban Chỉ đạo 389 các địa phương tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát việc đầu cơ trục lợi, vận chuyển lợn trái phép kể cả có hiện tượng việc xuất khẩu lợn trái phép không, và ngược lại liệu có mang thịt lợn sống, thịt có mầm mống dịch bệnh vào Việt Nam hay không?

Một nội dung nữa là Bộ Công Thương phối hợp với các hệ thống siêu thị, hệ thống phân phối tổ chức chương trình khuyến mại và bình ổn giá mặt hàng thịt lợn. Vừa qua, Hệ thống Big C Việt Nam đã làm rất tốt, tuy nhiên cũng chỉ có mức độ. Vì nguồn cung thiếu, họ không giữ mãi giá thấp trong khi giá bên ngoài cao hơn nhiều được. Trong tháng 4/2020, Big C đã bù hơn 17 tỷ đồng Việt Nam để tổ chức chương trình bình ổn giá thịt lợn.

Vấn đề này được tôi chia sẻ rất rõ trong buổi họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 4/2020. Các phóng viên có thể tham khảo tại Cổng Thông tin điện tử Chính  phủ hoặc Cổng Thông tin điện tử của Bộ Công Thương, mục Họp báo Chính phủ thường kỳ.

- Phóng viên Hoài Nam - Báo kinh tế Đô thị:

Cuối tháng này, vải sẽ thu hoạch quả. Tuy nhiên, Nhật Bản đang đóng cửa, tình hình Trung Quốc thời gian tới đang vào mùa thu hoạch, Bộ Công Thương sẽ có giải pháp gỡ khó tiêu thụ vải xuất khẩu và trong nước như thế nào?

Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại Hoàng Minh Chiến trả lời:

Trong bối ảnh dịch Covid-19, được sự chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Công Thương, Cục XTTM đã thực hiện nhiều hoạt động XTTM, hỗ trợ cho DN, địa phương. Do dịch bệnh, công tác XTTM giao thương theo hình thức truyền thống trực tiếp ra nước ngoài không thể thực hiện được. Trong bối cảnh đó, Cục XTTM mạnh dạn đề xuất và được Bộ Công Thương chỉ đạo quyết liệt, thực hiện giao thương trực tuyến qua mạng internet.

Ví dụ Hội nghị giao thương trực tuyến quốc tế sản phẩm phòng, chống dịch Covid-19 với tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) tổ chức ngày 31/3/2020. Cục XTTM phối hợp với Cơ quan xúc tiến phát triển ngoại thương Tứ Xuyên (Trung Quốc) tổ chức, nội dung hội nghị tập trung các sản phẩm phòng chống dịch Covid của Trung Quốc. Ngoài ra, cùng với việc trực tuyến với đầu cầu Trung Quốc, Cục XTTM cũng thực hiện trực tuyến với đầu cầu Canada, Nepal, Bhutan, Sri Lanka, Uzbekistan. Tại hội nghị, các doanh nghiệp Việt Nam đã tiến hành hơn 40 giao dịch với các DN Trung Quốc.

Hội nghị thứ 2, Hội nghị giao thương trực tuyến hàng hóa, với chuyên đề nông sản giữa Việt Nam- Quảng Tây (Trung Quốc). Hội nghị này được trực tiếp ở 2 đầu cầu Quảng Tây và tại Cục XTTM (Hà Nội), trên 150 DN 2 nước tham gia hội nghị, 35 DN xuất khẩu Việt Nam từ 63 tỉnh, thành trên cả nước đã tiến hành 170 lượt giao dịch hơn 70 DN nhập khẩu Quảng Tây (Trung Quốc) trong 6 phiên giao thương chuyên đề của hàng Việt Nam.

Hội nghị thứ 3 là Hội nghị giao thương trực tuyến Việt Nam - Ấn Độ được tổ chức ngày 28/4. Trong bối cảnh Covid-19, hội nghị thu hút 150 DN Việt Nam và Ấn Độ. Thông qua Hội nghị trực tuyến này, Việt Nam đã truyền tải thông điệp tới DN bạn, giới thiệu hàng hóa của Việt Nam, cũng như cơ hội hợp tác đầu tư cho DN 2 bên.

Liên quan đến câu hỏi về trái vải, sắp tới mùa thu hoạch vải, trong bối cảnh khó khăn do dịch bệnh, Bộ Công Thương chỉ đạo các đơn vị liên quan thuộc Bộ, trong đó có Cục XTTM, có giải pháp cụ thể cho các địa phương, DN tiêu thụ sản phẩm này. Đây là vấn đề được Bộ Công Thương đã quán triệt và giao cho Cục XTTM cần chú trọng và làm việc trực tiếp với các địa phương, đặc biệt hỗ trợ việc tiêu thụ các sản phẩm nông sản.

Ngay từ đầu năm, Cục XTTM đã chủ động làm việc với các cơ quan thuộc tỉnh Bắc Giang – vựa vải lớn nhất cả nước - trao đổi các phương án, biện pháp và kế hoạch cụ thể nhằm thúc đẩy tiêu thụ trái vải ở thị trường trong nước và ngoài nước. Ngày 13/5/2020, Cục XTTM đã làm việc trực tiếp với Sở Công Thương Bắc Giang và thống nhất giữa Bộ Công Thương và tỉnh Bắc Giang sẽ tổ chức Hội nghị xúc tiến tiêu thụ quả vải thiều năm 2020, dự kiến vào đầu tháng 6. Hội nghị sẽ được tổ chức theo hình thức mới, kết hợp trực tiếp với trực tuyến, với đầu cầu là tỉnh Bắc Giang và kết nối 62 tỉnh, thành trên cả nước, đồng thời kết nối trực tuyến với 2 tỉnh Quảng Tây và Vân Nam (Trung Quốc) - là 2 cửa ngõ nhập khẩu lớn sản phẩm vải của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc.

Mỗi điểm cầu tại các tỉnh, thành trong nước dự kiến sẽ có sự tham dự của Lãnh đạo cơ quan, ban ngành các tỉnh/thành, cùng đại diện các doanh nghiệp thu mua xuất khẩu, chợ đầu mối, hệ thống phân phối bán buôn, bán lẻ trái vải ở thị trường trong nước. Về phía điểm cầu Trung Quốc, dự kiến sẽ mời lãnh đạo các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam và Trung Quốc, lãnh đạo các cơ quan quản lý cửa khẩu và thương mại xuất nhập khẩu, các Hiệp hội xuất nhập khẩu hoa quả, doanh nghiệp, thương nhân nhập khẩu vải thiều của Trung Quốc... tham gia.

Điều này thể hiện Bộ Công Thương đã chủ động phối hợp, chủ động hỗ trợ tiêu thụ quả vải. Bên cạnh đó, Cục XTTM đã làm việc với tỉnh Sơn La về tiêu thụ quả nhãn và các sản phẩm nông sản an toàn của tỉnh Sơn La, hình thức tổ chức hoạt động xúc tiến tiêu thụ tương tự như tổ chức với tỉnh Bắc Giang. Trong bối cảnh như vậy, không phải có quả vải ra rồi mà không tiêu thụ được mới tiến hành gói hỗ trợ, thực tế, Cục XTTM phải bàn trước với tỉnh, cơ quan liên quan để có hỗ trợ thiết thực và đúng thời điểm.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải trả lời:

Vừa qua, Cục XTTM có cố gắng trong việc đổi mới về công tác XTTM, tổ chức nhiều giao thương trực tuyến với nhiều thị trường như Trung Quốc, châu Âu, châu Mỹ, châu Á. Đây không phải chỉ thực hiện cho thời kỳ Dịch Covid-19 mà là xu hướng bắt buộc, một là ứng dụng CNTT trong XTTM và thứ 2 là TMĐT. Mặc dù điều này không thể thay thế toàn bộ các hoạt động theo phương pháp XTTM truyền thống, tuy nhiên đây cũng là phương pháp cần tận dụng và làm tốt hơn. Đối với mặt hàng nông sản, như vải, nhãn, chỉ có vụ như vải có 2-3 tuần, nhiều là 1 tháng. Nếu không làm nhanh thì quả vải bỏ đi, trong khi thị trường Trung Quốc đang rất cần. Hàng trăm thương nhân của họ sẵn sàng đợi chờ các lô vải nhập cảnh sang Việt Nam chấp nhận thời gian cách ly để sau đó có thể mua quả vải về bán tại thị trường Trung Quốc.

Rõ ràng, khả năng xuất khẩu vải là hoàn toàn khả thi. Bộ Công Thương đang phối hợp không chỉ với thị trường Trung Quốc mà còn nhiều thị trường khác. Mới đây, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có giao dịch trực tuyến với Nhật Bản để tìm cách xuất khẩu sang nhiều thị trường khác.

Rõ ràng, câu chuyện này không chỉ của riêng cơ quan đơn vị nào, mà cần các Bộ, ngành trong nước phối hợp để xúc tiến các mặt hàng này đi các thị trường Trung Quốc, Nhật Bản và các thị trường khác. Hiện, Bộ Công Thương đang phối hợp chặt chẽ với hiệp hội, địa phương, DN triển khai tích cực.

Còn vấn đề nữa đó là nếu không xuất mặt hàng vải đi được thì sao? Đây là vấn đề rất lớn, không phải bây giờ mới có mà vấn đề này đưa ra từ lâu rồi. Với mặt hàng nông sản, vải đang tươi ngon, nếu không xuất đi được thì phải làm gì? Nhiều doanh nghiệp, địa phương cũng đang có sự sáng tạo trong nâng cao giá trị chế biến quả vải để làm ra các sản phẩm như vải khô, vải đóng hộp, rượu, nước hoa quả… thay vì chỉ tập trung vào xuất khẩu vải tươi. Đây là hướng đi, giải pháp hợp lý và quan trọng để khắc phục vấn đề mùa vụ của mặt hàng nông sản.

- Phóng viên Thanh Phong - Báo Điện tử Dân Việt:

Trong thời gian vừa qua, Bộ Công Thương cũng như Hiệp hội Ô tô  đã đề xuất giảm một số loại thuế phí ô tô lắp ráp trong nước đê kích cầu cầu thị  trường ô tô nhưng Bộ Tài chính lại cho rằng điều này vi phạm quy định về WTO. Bộ Công Thương đánh giá như thế nào về vấn đề này?

Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp Nguyễn Ngọc Thành trả lời:

Trong thời gian qua, ảnh hưởng của đại dịch Covid - 19 khiến một số chỉ số của ngành sản xuất ô tô giảm rất mạnh. Cụ thể, trong 4 tháng đầu năm 2020, chỉ số sản xuất công nghiệp của ngành sản xuất xe có động cơ (trong đó có ô tô) giảm 14,2 %, sản lượng sản xuất ô tô ước chỉ đạt khoảng 61.500 xe các loại, giảm 24 % so với cùng kỳ năm trước. Ngoài ra, lượng xe tiêu thụ cũng giảm mạnh, khoảng 35 - 40 % so với cùng kỳ 2019.

Đứng trước tình hình đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 41/2020/NĐ-CP về hỗ chợ cho sản xuất, doanh nghiệp (DN) nói chung, quy định việc gia hạn thời hạn nộp thuế (thu nhập doanh nghiệp, VAT) cho các doanh nghiệp – trong đó có các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô. Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng đã tiếp tục kiến nghị Chính phủ xem xét một số giải pháp về giãn thuế tiêu thụ đặc biệt cũng như giảm lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất trong nước. Các giải pháp này sẽ chỉ thực hiện trong thời gian ngắn hạn, tức là từ nay đến hết năm 2020.

Không riêng gì Việt Nam, trong thời điểm dịch bệnh hiện tại, đối với các ngành nói chung và ngành ô tô nói riêng, các nước, trong đó có ASEAN cũng như nhiều nước trên thế giới đều có sự hỗ trợ nhất định, thậm chí mạnh tay hơn. Theo đánh giá Bộ, thời gian áp dụng các giải pháp nêu trên là không kéo dài, thậm chí rất ngắn (chỉ trong vòng khoảng 6 tháng) thì khả năng các nước có ý kiến về vấn đề liên quan đến một số cam kết quốc tế sẽ khó có thể xảy ra. Có thể có một số ý kiến chưa đồng thuận theo thông tin của báo chí, tuy nhiên đến thời điểm hiện nay, về cơ bản các cơ quan Bộ, ngành ủng hộ với các đề xuất này của Bộ Công Thương.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải trả lời:

Quan điểm của Bộ Công Thương đã khẳng định rất rõ trong văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ và các bộ ngành liên quan. Ngành công nghiệp ôtô là một trong những ngành công nghiệp lớn của Việt Nam, mang lại lợi ích cho nền kinh tế và lợi ích cho người dân.

Trong bối cảnh do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, tất cả các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ôtô phải tạm dừng hoạt động, gặp khó khăn rất nhiều. Trong khi đó, ôtô trong nước phải cạnh tranh khốc liệt với ôtô nhập khẩu giá rẻ khi hàng rào thuế quan được gỡ bỏ. Nếu không có giải pháp kịp thời, quyết liệt thì ngành công nghiệp ôtô trong nước sẽ lao đao hơn.

Ngành công nghiệp ô tô trong nước đang gặp nhiều khó khăn, nếu 1-2 năm nữa mới áp dụng các biện pháp hỗ trợ như việc giảm thuế phí thì không kịp. Giá thành ôtô bây giờ vẫn quá cao so với thu nhập của người dần Việt Nam, vì vậy đề xuất giảm 50% lệ phí trước bạ nhận được sự đồng cảm, chia sẻ của các cơ quan liên quan.

- Phóng viên Bùi Thành Công – Báo Năng lượng mới:

Dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến ngành dầu khí, dặc biệt do xăng dầu dư cung nên Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã kiến nghị hạn chế nhập khẩu xăng dầu để giảm thiệt hại cho doanh nghiệp xăng dầu trong nước. Xin Bộ Công Thương có ý kiến về vấn đề này?

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải trả lời:

Trước hết, chúng ta đã biết đề xuất của PVN nhưng thực chất liên quan đến 2 nhà máy Lọc hóa dầu Nghi sơn và Bình Sơn. Nghi Sơn là nhà máy liên doanh với vốn nước ngoài 75%, PVN – đại diện cho Việt Nam chỉ chiếm 25%, còn Bình Sơn là nhà máy 100%. Trong thời gian qua, PVN gặp nhiều khó khăn trong bối cảnh giá dầu thô trên thế giới sụt giảm theo chiều thẳng đứng, trong vòng 3 tháng giảm 65%. Theo đó, nguồn thu của PVN bị ảnh hưởng kéo theo ảnh hưởng đến nguồn thu quốc gia.

Bộ Công Thương rất chia sẻ với khó khăn với tất cả các loại hình DN tại Việt Nam trong đó có Tập đoàn Dầu khí quốc gia, 2 nhà máy lọc hóa dầu Bình Sơn và Nghi Sơn. Đó không phải 2 nhà máy xuất khẩu dầu thô mà dùng dầu thô để chế biến các sản phẩm xăng dầu thành phẩm để bán hoặc xuất khẩu. Tương tự như vậy, chúng ta có 33 đầu mối để nhập khẩu xăng dầu tại Việt Nam thực hiện theo Nghị định 83 của Chính phủ, có nghĩa họ đáp ứng qui định, yêu cầu của Nghị định 83 sẽ được phép là đầu mối trực tiếp XNK xăng dầu. Hiện các DN này đang nhập khẩu xăng dầu bán tại Việt Nam. Tuy nhiên trong trong 3 tháng vừa qua họ cũng đã gặp rất nhiều khó khăn. Ngay trong nước, giá xăng đầu đã điều chỉnh giảm 8 lần liên tiếp, gần đây nhất lần  điều chỉnh thứ 9 mới tăng ở mức độ vừa phải. Trong đó, xăng E5 chỉ tăng 578 đồng/lít, RON95 chỉ tăng 604 đồng/lít.

Bản thân các DN nhập khẩu trực tiếp xăng dầu cũng kinh doanh rất khó khăn. Ngoài ra đối với đề xuất của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đã có nghiên cứu, bàn bạc rất kĩ trong các đơn vị của Bộ Công Thương, các DN kinh doanh xăng dầu, Hiệp hội xăng dầu Việt Nam và các Hiệp hội doanh nghiệp trực tiếp dùng xăng dầu là đầu vào trong sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng. Một mặt nếu chúng ta cấm hoặc hạn chế nhập khẩu xăng dầu, tức là trong 33 DN chỉ có 1, 2 DN được phép nhập khẩu, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến giá cả xăng dầu thành phẩm, quyền lợi người dân và các DN trong nước dùng xăng dầu làm đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác, nếu cấm nhập khẩu xăng dầu có nghĩa là cấm các nước khác xuất khẩu xăng dầu vào Việt Nam, điều này sẽ vi phạm các quy tắc trong các hiệp định FTA và cam kết với các nước. Vậy liệu các nước liên quan có sử dụng biện pháp tương tự với các mặt hàng khác của chúng ta đang xuất khẩu sang các nước hay không?

Chúng tôi đã trao đổi trực tiếp với Tổng giám đốc Tập đoàn dầu khí Việt Nam cũng như báo cáo Ban chỉ đạo điều hành giá cần cân nhắc trước khi đưa ra quyết định. Quan trọng nhất là cần hài hòa lợi ích của nhiều nhóm, đối tượng liên quan; Thứ nhất là quyền lợi của người dân, người tiêu dùng và các doanh nghiệp sử dụng xăng dầu trong nước làm đầu vào. Thứ hai, các DN kinh doanh xăng dầu bao gồm cả doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu và các nhà máy sản xuất tại Việt Nam, trong đó bao gồm hai nhà máy Bình Sơn và Nghi Sơn.

Thứ 3 là lợi ích của nhà nước, quan trọng nhất là đảm bảo an ninh năng lượng mà cụ thể là đủ xăng dầu để cung cấp cho nhu cầu sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của người dân.

Xin được cung cấp thông tin: Trong khi 1 năm thì ít nhất là 1 tháng rưỡi nhà máy dầu như Nghi Sơn phải bảo dưỡng định kỳ và sắp tới trong năm 2020 cũng sẽ phải như vậy. Hoặc như năm 2019, ngoài thời gian bảo dưỡng định kỳ, chỉ vì 1sự cố kèo dài mất 1 tháng 4 ngày do đó nhà máy ngừng hoạt động từ ngày 24/2/2019 kéo dài đến ngày 28/3/2019. Lúc đó chúng tôi đã rất lo lắng và phải yêu cầu các doanh nghiệp đầu mối khác khẩn trương nhập khẩu xăng dầu để bù đắp lượng thiếu hụt. Ngoài ra cũng cần tôn trọng các hợp động đã ký của các đầu mối nhập khẩu với các đối tác nước ngoài. Chính vì vậy, mong các doanh nghiệp, các đối tượng chia sẻ quyền lợi một cách hài hòa kể cả quyền lợi của nhà nước cũng như quyền lợi của các đối tượng liên quan.

- Phóng viên Thanh Phong – Báo điện tử Dân Việt:

Về vấn đề gạo thời gian qua có gỡ khó cho xuất khẩu gạo, tuy nhiên các doanh nghiệp phản ánh thời gian giãn xuất khẩu gạo gây nguy cơ mất cơ hội xuất khẩu gạo. Trong bối cảnh nguồn  cung gạo thế giới tăng, Bộ Công Thương cho biết quan điểm của Bộ nguy cơ mất đi cơ hội xuất khẩu gạo của Việt Nam như thế nào, trong bối cảnh nguồn cung tăng, tình hình xuất gạo như thế nào và thời gian tới?

Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Thanh Hải trả lời:

Gạo là mặt hàng xuất khẩu nhưng phải đảm bảo an ninh lương thực. Vì vậy thời gian qua Bộ Công Thương được giao điều hành xuất khẩu gạo, đảm bảo giám sát chặt chẽ và linh hoạt từng thời kỳ. Giai đoạn tháng 3 khi có dịch bệnh đỉnh điểm, phức tạp không chỉ Việt Nam mà nhiều nước, nên tiến hành biện pháp thắt chặt hàng lương thực, thực phẩm như Thái Lan, Campuchia, Ấn Độ…

Bối cảnh như vậy thì Chính phủ có quyết định giãn tiến độ xuất khẩu gạo, và cuối tháng 4-2020 tình hình có thay đổi, Chính phủ xem xét nới lỏng hoạt động xuất khẩu. Qua 4 tháng xuất khẩu gạo, đã đạt 991 triệu USD, 2,1 triệu tấn, so với cùng kỳ năm ngoái xuất khẩu tăng nhẹ là 1,1%, còn về kim ngạch tăng 4,1%.

Đề thực hiện quản lý, Bộ Công Thương tiếp tục có giải pháp thực hiện nghiêm quản lý xuất khẩu gạo qua các cửa khẩu quốc tế, phối hợp lực lượng để tăng kiểm tra giám sát chặt chẽ ngăn ngừa hành vi buôn lậu gạo qua biên giới. Nghiêm túc yêu cầu thương nhân duy trì dự trữ xuất khẩu gạo 5%, nếu không thực hiện sẽ xem xét việc xuất khẩu gạo, đáp ứng đủ nguồn cung thóc gạo theo yêu cầu.

Văn phòng Bộ


Tags:
Tin liên quan
THÔNG BÁO MỚI
1
2
3
Video
Xem toàn bộ