Truy cập nội dung luôn

Tổng hợp các vấn đề tại Họp báo thường kỳ Bộ Công Thương

22/10/2020

Ngày 16 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Bộ Công Thương, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải, Người phát ngôn của Bộ Công Thương đã chủ trì cuộc họp báo thường kỳ của Bộ. Tại buổi họp báo, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải đã cung cấp các thông tin kết quả về tình hình sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại trong tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2020.

1. Về đánh giá tình hình tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2020

- Thế giới: Đến thời điểm giữa tháng 9, nhiều nền kinh tế tái khởi động sau phong tỏa do dịch Covid-19, dự báo về tăng trưởng kinh tế thế giới có những dấu hiệu khả quan hơn khi kinh tế toàn cầu có xu hướng phục hồi sau khi nới lỏng các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 và các doanh nghiệp mở cửa trở lại. Thương mại toàn cầu, giá cả hàng hóa đang dần được phục hồi do hiện tại nhiều quốc gia đang đưa ra những chính sách tạo thuận lợi cho thương mại, với việc bãi bỏ nhiều hạn chế đã từng áp dụng trước đây. Trong báo cáo ngày 17/9/2020, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ước tính chỉ số Thước đo thương mại dịch vụ ở mức 95,6 (vẫn thấp hơn giá trị cơ sở 100) nhưng đã tăng so với báo cáo cách đây một tháng (ở mức 84,5 điểm).

- Trong nước: kể từ ngày bùng phát dịch Covid-19 trở lại tại Đà Nẵng (ngày 25/7), dịch Covid-19 đã được kiểm soát chặt chẽ, nền kinh tế từng bước hoạt động trở lại trong điều kiện bình thường mới, hoạt động sản xuất kinh doanh tháng 9 đang dần khôi phục trở lại và có sự khởi sắc hơn, mặc dù vẫn còn chậm do ảnh hưởng của thị trường tiêu thụ. Cụ thể:

2. Về sản xuất công nghiệp

- Về tăng trưởng giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp: 9 tháng năm 2020 tăng 2,69% so với cùng kỳ năm trước, tuy thấp hơn so với mức tăng cùng kỳ các năm 2011-2020 nhưng vẫn cao hơn mức tăng trưởng GDP chung của toàn nền kinh tế (tăng 2,12%).

Trong đó: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,6% tuy thấp hơn mức tăng của cùng kỳ các năm trong giai đoạn 2011-2020 nhưng tiếp tục là động lực chính của tăng trưởng toàn nền kinh tế, đóng góp 1,02 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế.

- Về Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP):

Trước tình hình dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, sản xuất công nghiệp tháng 9 đã có sự khởi sắc hơn và đang dần khôi phục trở lại. IIP tháng 9 tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 9 tháng năm 2020, IIP ước tính tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước và là mức tăng thấp nhất trong nhiều năm qua. (Tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng các năm 2012-2020 lần lượt là: 6,1%; 5,3%; 6,8%; 9,9%; 7,1%; 8,8%;10,6%; 9,6%; 2,3%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo chỉ tăng 3,8% (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,8%).

Mặc dù tốc độ tăng IIP vẫn còn chậm do ảnh hưởng của thị trường tiêu thụ nhưng dự báo từ tháng 10/2020, nếu đà kiểm soát dịch bệnh được duy trì như hiện nay, sản xuất sẽ tăng trưởng cao hơn để chuẩn bị cho các tháng tiêu thụ cao điểm cuối năm.

Một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo sản xuất tháng 9 đã tăng so với tháng 8: sản xuất dệt tăng 2%; sản xuất trang phục tăng 13,7%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 4,5%; sản xuất chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 5,4%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 1,8%; sản xuất kim loại tăng 6,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 4,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 3,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 1,8%.

3.Về xuất nhập khẩu

- Trong 9 tháng đầu năm, hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn giữ được mức tăng dương, nhất là đặt trong bối cảnh các nền kinh tế khu vực và thế giới có mức tăng trưởng âm (Theo tính toán của Trung tâm thương mại quốc tế, kim ngạch xuất khẩu của 44 quốc gia có số liệu thống kê đến hết tháng 7 vừa qua giảm tới 12,4%) là một nỗ lực rất lớn của các ngành, lĩnh vực.

+ Xuất khẩu tháng 9/2020 tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước.

+ Tính chung 9 tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng 8,4%). Trong đó, kim ngạch xuất khẩu khối doanh nghiệp trong nước tăng mạnh 19,5% so với cùng kỳ năm 2019; khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu (tính cả dầu thô xuất khẩu) giảm 2,8% so với cùng kỳ năm trước.

+ Trong quý III/2020, kim ngạch xuất khẩu đạt 80,07 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm trước và tăng 34% so với quý II năm 2020 (tăng 26,6% so với quý I), cho thấy xuất khẩu đã phục hồi tích cực trong quý III. Sự phục hồi này tập trung ở nhóm các mặt hàng công nghiệp chế biến, với kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này 9 tháng đã tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2019, chiếm tỷ trọng 84,6% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Các mặt hàng có đóng góp lớn vào mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu là: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 25,9%; gỗ và sản phẩm từ gỗ đạt tăng 12,4%; máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng tăng 39,8%; sắt thép các loại tăng 16,2%; dây điện và cáp điện tăng 20%; phân bón các loại tăng 33,2%; giấy và sản phẩm từ giấy tăng 29,8%... Ngoài ra, mặt hàng sản phẩm đồ nội thất từ chất liệu khác gỗ và đồ chơi dụng cụ thể thao là 2 mặt hàng này có tăng trưởng xuất khẩu ở mức cao (lần lượt là 57,4% và 59,5%) - đây là những nhóm hàng mới, có tăng trưởng cao ngay cả trong giai đoạn dịch bệnh chưa được khắc phục hoàn toàn và là điểm tích cực cần được khai thác trong thời gian tới.

- Nhập khẩu tháng 9/2020 tăng 6,5% so với tháng trước và tăng 12,6% so với cùng kỳ, là tín hiệu tích cực cho thấy sản xuất trong nước từng bước được khôi phục tốt hơn so với những tháng trước.

Tính chung 9 tháng, nhập khẩu giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng 8,3%). Nhập khẩu giảm tập trung ở nhóm hàng cần kiểm soát, giảm 15,3% so với cùng kỳ năm trước (chủ yếu là các mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu, không phục vụ nhu cầu sản xuất, ví dụ như: ô tô dưới 9 chỗ giảm 44,2%; máy ảnh, máy quay phim giảm 10%; rau quả giảm 32,3%...), trong khi nhóm hàng cần nhập khẩu, chủ yếu là nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất, chỉ giảm 0,3% so với cùng kỳ.

+ Trong quý III/2020, kim ngạch nhập khẩu đạt 68,54 tỷ USD, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước và tăng 18,5% so với quý II năm nay (tăng 15,2% so với quí I), cho thấy sản xuất bắt đầu phục hồi, nhu cầu nhập khẩu đã tăng lên.

- Cán cân thương mại tháng 9 ước tính xuất siêu 2,96 tỷ USD. Tính chung 9 tháng, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 16,5 tỷ USD (cùng kỳ xuất siêu 7,27 tỷ USD). Qua 9 tháng, xuất siêu ở mức cao chủ yếu do xuất khẩu duy trì được mức tăng trưởng tích cực và nhập khẩu giảm. Tuy nhiên, như đã nêu ở trên, nhập khẩu chủ yếu giảm ở nhóm hàng không khuyến khích nhập khẩu.

4.Về thị trường nội địa: Hoạt động thương mại dịch vụ trong tháng 9 đã có dấu hiệu tăng trở lại khá mạnh mẽ. Thị trường hàng hóa và đời sống của người dân dần ổn định, các điểm tham quan, du lịch trên địa bàn nhiều tỉnh/thành phố đã mở cửa trở lại.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9/2020 tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước. (Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8/2020 giảm 1,1% so với tháng 7 và tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước)

Tính chung 9 tháng năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng nhẹ 0,7% (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,8%).

5. Về đánh giá khả năng có thể đạt được của cả năm 2020, Bộ Công Thương đã tiến hành rà soát kỹ từng lĩnh vực, ngành hàng để cập nhật lại kịch bản điều hành, xem xét các giải pháp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu cho những tháng cuối năm. Qua đánh giá cho thấy khả năng có thể đạt được ở các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, xuất khẩu và thương mại nội địa cả năm 2020 đều tích cực hơn so với đánh giá hồi tháng 7/2020. Cụ thể như sau:

- Về sản xuất công nghiệp: Dự kiến chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) cả năm phấn đấu tăng khoảng 3-4%, là mức cao hơn so với đánh giá hồi 7/2020 (kế hoạch đề ra đầu năm 2020 là 9 - 10%).

Trong đó, một số nhóm ngành chủ yếu như sau: Dầu thô phấn đấu cả năm đạt 11,04 triệu tấn, tăng 0,42 triệu tấn so với kế hoạch được giao (bằng 84,3% so với năm 2019); sản lượng khai thác khí ước đạt 9,79 tỷ m3, vượt 0,05 tỷ m3 so với kế hoạch đề ra (bằng 95,8% so với năm 2019); Điện năng sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống điện năm 2020 dự kiến tăng khoảng 1,87% so với cùng kỳ năm 2019 (thấp hơn 6,46% so với Kế hoạch dự kiến).

- Đối với xuất nhập khẩu:

+ Tại thị trường EU: Việc triển khai thực thi Hiệp định EVFTA đang được thực hiện tích cực và cho kết quả khả quan. Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực tại thị trường EU sau gần 2 tháng EVFTA được thực thi. Bên cạnh thủy sản, gạo Việt xuất khẩu sang châu Âu cũng có những tín hiệu khả quan khi giá gạo xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU đã tăng so với thời điểm trước khi EVFTA có hiệu lực. Ngoài ra, nhiều mặt hàng khác như điện thoại và linh kiện, máy móc, thiết bị phụ tùng, dệt may, da giày, thủy sản, đồ gỗ, cà phê… cũng đang được nhận định kỳ vọng lớn trong việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này thời gian tới.

+ Đối với thị trường Hoa Kỳ và các thị trường khác: Do nhu cầu tiêu thụ những tháng cuối năm tăng nên xuất khẩu vào các thị trường này cũng sẽ có mức tăng trưởng hơn so với các đầu năm.

Căn cứ bối cảnh tình hình hiện nay, thực tế xuất khẩu Quý III có những kết quả tích cực hơn so với dự báo. Xuất khẩu trung bình các tháng Quý III đạt được khoảng 26,6 tỷ USD. Đây là mức tăng cao, tăng đến 34% so với Quý II trước đó. Do vậy, dự kiến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam cả năm 2020 sẽ có thể đạt mức tăng từ 3-4%.

- Về thị trường trong nước: Dự kiến quý IV, nếu dịch bệnh tiếp tục được kiểm soát tốt, nhiều chương trình xúc tiến thương mại, kích cầu du lịch, kích cầu nội địa, các chương trình bình ổn thị trường, đưa hàng Việt về nông thôn… đang được Bộ Công Thương và các địa phương tích cực triển khai và nhu cầu mua sắm cuối năm tăng cao sẽ giúp thúc đẩy sức mua của thị trường nội địa, tạo ra động lực tăng trưởng cho các tháng cuối năm. Dự kiến tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng khoảng 0,9% so với năm 2019 (chỉ tiêu kế hoạch đầu năm là 12%).

MỘT SỐ VẤN ĐỀ BÁO CHÍ QUAN TÂM TẠI CUỘC HỌP BÁO

Trong khuôn khổ họp báo Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải, Người phát ngôn của Bộ Công Thương và đại diện các Đơn vị thuộc Bộ đã trả lời một số câu hỏi của phóng viên báo chí. Nội dung cuộc họp báo xoay quanh các vấn đề chính, bao gồm: vấn đề về thủy điện; vấn đề đảm bảo nguồn cung ứng trong nước ra sao khi Nghị quyết số 115/NQ-CP ngày 6/8/2020 về các giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ đã được đưa ra; về xuất nhập khẩu; việc đảm bảo nguồn cung ứng hàng hóa trong dịch bệnh, thiên tai; công tác bình ổn thị trường; vấn đề hàng giả, hàng nhái...

- Nhóm câu hỏi về vấn đề thủy điện (Phóng viên Thanh Phong – Báo điện tử Dân Việt; Nguyễn Mạnh – Báo điện tử Dân trí)

1. Được biết, tại Thừa Thiên Huế có đến 2/3 dự án thủy điện được Bộ Công Thương quy hoạch. Thời gian qua, Bộ Tài nguyên Môi trường đã có phản ánh trên một số cơ quan báo chí về việc đã đưa ra một số cảnh báo vấn đề môi trường với các dự án thủy điện. Vậy Bộ Công Thương có nắm được thông tin hay không? Khi đưa ra quy hoạch dựa trên căn cứ nào?

 2. Tại Phong Điền có 4 dự án thủy điện và nằm ở vùng lõi của khu bảo tồn thiên nhiên. Những dự án này đã được đánh giá tác động môi trường đầy đủ chưa?

 3. Thời gian qua vấn đề thủy điện tại Thừa Thiên Huế, Bình Định gặp nhiều tai nạn. Một số địa phương, khu vực khác có nhiều thủy điện như Hà Giang, Tây Nguyên người dân lo lắng về sự an toàn của các dự án điện này, Bộ Công Thương có ý kiến như thế nào? Phương án điều hành hoạt động các nhà máy thủy điện được thực hiện như thế nào?

 4. Bộ Công Thương đã ban hành các văn bản chỉ đạo về rà soát hồ chứa, đặc biệt là các khu vực chịu ảnh hưởng lũ lụt. Kết quả bước đầu ra sao?

 5. Các hồ thủy điện phía Bắc cơ bản đã đầy, cả ở Trung bộ cũng vậy. Vậy thời gian tới, việc vận hành an toàn hồ chứa hạ du được thực hiện như thế nào?

Phó Cục trưởng Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp Tô Xuân Bảo - trả lời:

 Về vấn đề lũ lụt nghiêm trọng ở miền Trung thời gian vừa qua, liên quan đến việc điều tiết lũ của các dự án thủy điện, trong phạm vi quản lý của Bộ Công Thương, thời gian qua, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã chỉ đạo quyết liệt việc đảm bảo an toàn hồ chứa. Thực hiện Nghị quyết 62/2013/QH13 của Quốc hội về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện và Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 62 của Quốc hội về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy, Bộ Công Thương đã ban hành một loạt văn bản tập trung vào vấn đề đánh giá, và yêu cầu các chủ đầu tư đảm bảo các vấn đề về an toàn hồ chứa.

Đối với việc thực hiện Nghị định 114 về đảm bảo an toàn hồ chứa, thời gian vừa qua, qua việc kiểm tra, cũng như qua việc Bộ Công Thương yêu cầu các Sở Công Thương trên địa bàn tổ chức các đoàn kiểm tra liên ngành, các báo cáo cho thấy, các hồ thủy điện đang vận hành trong phạm vi cả nước đều đảm bảo an toàn theo quy định.

Liên quan đến vấn đề xả lũ, Bộ Công Thương cũng đã chỉ đạo các thủy điện có chức năng tham gia hoạt động điều tiết lũ. Ở Việt Nam hiện có 11 hồ chứa có chức năng điều tiết lũ. Các hồ chứa này sẽ có trách nhiệm phải duy trì lượng nước nhất định để đảm bảo phòng lũ. Khi có lũ, các thủy điện phải báo cáo Ban chỉ huy phòng chống thiên tai của tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh để xin phép lệnh điều hành xả lũ nhằm duy trì mực nước đón lũ. Từ đó, nếu lũ về sẽ làm chậm, giảm lượng nước về phía hạ du. Đồng thời, khi xả lũ, các hồ thủy điện đều phải có cảnh báo cho các khu dân cư ở hạ du, phối hợp chặt với chính quyền địa phương trong việc thông báo để hạn chế tối đa thiệt hại cho người dân. Riêng các thủy điện nhỏ thường không có dung tích phòng lũ nên khi lũ từ thượng nguồn về, lũ sẽ tràn qua đập tràn về phía hạ du.

Trong các đợt lũ, Bộ trưởng Bộ Công Thương đều ban hành công điện chỉ đạo điều hành các hồ chứa triển khai các giải pháp ứng phó mùa lũ, vận hành đúng quy trình được phê duyệt, đảm bảo an toàn hạ du. Ban chỉ huy phòng chống thiên tai của Bộ Công Thương hàng ngày cũng kết nối với cơ sở dữ liệu các hồ chứa để thường xuyên theo dõi nguồn nước, mực nước về hồ nhằm có điều hành cụ thể và báo cáo thông tin kịp thời cho Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai.

Đợt mưa 10 ngày vừa qua, khu vực miền Trung đã chịu ảnh hưởng lớn của bão, gây ra đợt mưa rất lớn. Qua theo dõi, từ ngày 5 đến 12/10, tổng lượng mưa ở Hà Tĩnh và Bình Định, có nơi đạt 500mm; Quảng Bình có nơi đạt 1.200mm; Quảng Trị có nơi 1.800mm; Đà Nẵng 1.200mm; Quảng Nam 1.400; Thừa Thiên Huế có nơi đạt 2.000mm. Theo thống kê cả mùa mưa ở Huế, lượng nước đạt 2.009 - 2.127mm, tức là chỉ trong 1 tuần, lượng mưa xấp xỉ bằng cả mùa mưa, gây ra ngập lụt nhiều vùng miền Trung, ảnh hưởng lớn về người tài sản. Đây là điều xảy ra ngoài mong muốn. 

Phó Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo Đỗ Đức Quân - trả lời:

Thực hiện Nghị quyết 62/2013/QH13 của Quốc hội về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện và Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 62 của Quốc hội về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện, Bộ Công Thương đã cùng các tỉnh, địa phương rà soát hàng loạt dự án ảnh hưởng đến môi trường, ảnh hưởng nhiều đến xã hội và rừng.

Theo đó, kể từ năm 2016 đến nay, sau khi có Chỉ thị 13 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng và chỉ đạo của Chính phủ, tất cả các dự án thủy điện nhỏ liên quan đến rừng tự nhiên đều không được bổ sung quy hoạch. Bên cạnh đó, tất cả các dự án được bổ sung đều được kiểm tra rất kỹ các vấn đề liên quan đến đất, rừng. Trước đây nếu như mỗi MW điện chiếm 4-5 ha đất các loại, thì từ năm 2016 đến nay, không có dự án thủy điện nào chiếm đất rừng tự nhiên và các dự án thủy điện chỉ chiếm bình quân dưới 2 ha đất các loại (kể cả đất sông suối) cho 01 MW công suất lắp đặt. Các nhà đầu tư, các địa phương sau khi có chỉ đạo đã nhận thức tốt, từ đó hạn chế tối đa diện tích đất rừng sử dụng. Bộ Công Thương cũng chỉ đạo các địa phương từ năm 2017 đến nay không có dự án điện nào dưới 3 MW được bổ sung quy hoạch.

Đối với vấn đề cảnh báo các dự án thủy điện, trước đây, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có cảnh báo là các dự án thủy điện có thể gây ra các tác động như bồi lắng, cản trở dòng chảy thì phải xem xét trước khi quy hoạch. Riêng ở Huế có rủi ro lớn về tai biến địa chất. Bên cạnh đó, ở đây có lượng mưa lớn nhất cả nước. Do đó, vừa qua, khi mưa lớn xảy ra, cùng các rủi ro về địa chất nên đã gây ra sự cố, tai nạn nghiêm trọng.

Thời gian vừa rồi, khi xảy ra sự cố, Bộ Công Thương đã kịp thời cử cán bộ trực tiếp vào hiện trường, nhanh chóng báo cáo các thông tin dự án, thông tin hiện trường từ dự án với Bộ Công Thương, đồng thời báo cáo Chính phủ để có sự chỉ đạo điều hành và xử lý kịp thời, nhanh nhất.

- Phóng viên Nguyên Long – Đài Tiếng nói Việt Nam:

1. Thế giới bước vào làn sóng thứ 3, thứ 4 của dịch Covid-19. Bộ Công Thương khi nói về vấn đề cung cầu thì cũng đã phản ánh về việc đứt gãy nguồn cung ứng trong nước. Vậy Bộ Công Thương đã giải quyết vấn đề đảm bảo nguồn cung ứng trong nước ra sao khi Nghị quyết số 115/NQ-CP ngày 6/8/2020 về các giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ đã được đưa ra?

 2. EVFTA là cứu cánh của xuất nhập khẩu trong giai đoạn dịch Covid khi giúp kim ngạch xuất khẩu tăng cao. Thời gian tới, Bộ Công Thương tính đến phương án xuất khẩu như thế nào trong dịch bệnh?

 3. Trong dịch bệnh thiên tai, Bộ Công Thương đảm bảo nguồn cung ứng hàng hóa như thế nào?

Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp Nguyễn Ngọc Thành - trả lời:

Về thực trạng đứt gãy nguồn cung ứng

Các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam hiện nay phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung cấp nguyên phụ liệu, linh kiện đầu vào nhập khẩu từ Trung Quốc và một số quốc gia khác đang chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh (như Hàn Quốc, Nhật Bản) để phục vụ sản xuất (Trung Quốc hiện là trung tâm cung ứng các sản phẩm trung gian cho khu vực châu Á, với hơn 40% lượng hàng hoá trung gian cho các chuỗi sản xuất tại khu vực này). Những ngành hàng phụ thuộc lớn nhất vào nguồn nguyên liệu sản xuất từ các quốc gia trên cũng là những ngành công nghiệp chủ lực hiện nay của Việt Nam, gồm điện tử; dệt may; da – giày - túi xách; sản xuất, lắp ráp ô tô...

Tuy nhiên, kể từ sau tháng 3/2020 đến nay, nhờ các giải pháp tích cực của Chính phủ trong việc thông thương hàng hóa và tìm kiếm các nguồn cung thay thế, cũng như việc các doanh nghiệp tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản đã dần quay trở lại hoạt động, do đó, nguồn cung nguyên vật liệu, linh phụ kiện nhập khẩu cho các ngành sản xuất tại Việt Nam đã được phục hồi. Các doanh nghiệp cũng đã chủ động đa dạng hóa các phương thức vận tải nhập khẩu (đường biển hoặc đường hàng không) nhằm thay thế một phần cho vận tải đường bộ trong việc nhập khẩu các nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất.

Trên thực tế, việc đứt gãy nguồn cung chỉ có tác động rõ rệt đến các ngành công nghiệp trong nước trong quý I/2020, tuy nhiên các khó khăn, vướng mắc về nguyên phụ liệu, linh phụ kiện nhập khẩu cơ bản không tác động quá nghiêm trọng tới hoạt động sản xuất do hầu hết các doanh nghiệp vẫn có thể cân đối từ nguồn nguyên phụ liệu dự trữ cũng như các đơn hàng sẵn có từ cuối 2019 và đầu 2020. Sau thời điểm này, các khó khăn về thị trường tiêu thụ mới là nguyên nhân chính dẫn đến sự sụt giảm của sản xuất công nghiệp so với cùng kỳ 2019.

Về công tác hỗ trợ của Bộ Công Thương

Liên quan đến các công tác hỗ trợ doanh nghiệp khi nguồn cung bị đứt gãy, Bộ Công Thương đã tích cục triển khai các giải pháp sau:

* Hỗ trợ kết nối và đa dạng hóa nguồn cung

- Thường xuyên và tích cực phối hợp với các địa phương và các Bộ, ngành liên quan liên hệ với cơ quan chức năng bên phía Trung Quốc để bảo đảm tháo gỡ một phần các khó khăn về thông thương hàng hóa phục vụ sản xuất trong nước, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp lớn như Samsung, Foxconn...

- Phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đa dạng hóa phương thức vận tải trong việc nhập khẩu hàng hóa (đường hàng không, đường biển).

- Thông qua các kênh ngoại giao, thương vụ... liên hệ để mở rộng tìm kiếm, đa dạng hóa nguồn cung linh phụ kiện nhập khẩu phục vụ cho sản xuất thay thế một phần cho nguồn cung từ Trung Quốc, Hàn Quốc (ví dụ các nước như Ấn Độ, ASEAN...).

- Thúc đẩy các hoạt động liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp và doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước để tự chủ một phần nguồn cung nguyên phụ liệu trong nước – đặc biệt là trong các ngành như may mặc, giày dép.

* Hoàn thiện chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp và công nghiệp hỗ trợ nhằm tăng cường khả năng tự chủ sản xuất trong nước

 Bộ Công Thương đã trình và Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 115/NQ-CP ngày 06/8/2020 về các giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ và Nghị quyết 124/NQ-CP ngày 03/9/2020 Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 23-NQ-TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về Định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Sau khi Chính phủ ban hành các Nghị quyết trên, Bộ Công Thương cũng đã có Văn bản gửi đi các Bộ ngành, địa phương, trong đó đề nghị sớm triển khai các giải pháp liên quan đến phát triển các ngành công nghiệp và công nghiệp hỗ trợ phục vụ nguồn cung cho sản xuất trong nước.

Ngoài ra, Bộ đang tiếp tục hoàn thành, trình Chính phủ xem xét ban hành các chính sách quan trọng khác như Nghị quyết về phát triển ngành cơ khí Việt Nam, sửa đổi Nghị định số 111/2015/NĐ-CP về công nghiệp hỗ trợ; sửa đổi bổ sung Chương trình công nghiệp hỗ trợ (tại Quyết định số 68/QĐ-TTg năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ), xây dựng chiến lược phát triển các ngành dệt may, da giày và sớm trình Chính phủ trong năm 2020.

Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Thanh Hải - trả lời: 

Qua 2 tháng Hiệp định EVFTA chính thức đi vào thực thi đã đưa ra những kết quả rất tích cực, tháng 8 xuất khẩu sang EU 3,25 tỷ USD tăng 4% so với cùng kỳ năm trước, tháng 9 tăng 7% so với cùng kỳ năm trước.

Trong việc tận dụng hiệu quả của các FTA nói chung, chúng ta thường nhìn số lượng C/O đã cấp. Qua 2 tháng thực hiện Hiệp định EVFTA, Bộ Công Thương đã cấp 20.800 C/O sang EU với kim ngạch 830 triệu USD, trong đó, trong tháng 8 là 310 triệu USD, tháng 9 là 519 triệu USD. Việc này thể hiện doanh nghiệp đã nắm bắt được quy định và tận dụng được ưu đãi của EVFTA.

Các mặt hàng tận dụng ưu đãi của EVFTA chủ yếu là: giày dép, cà phê, rau quả,... Trong đó, các mặt hàng giày dép (tốt nhất là 385 triệu USD), thủy sản (118 triệu USD), nhựa và sản phẩm nhựa là 48 triệu USD. Đây là kết quả rất tích cực, khi mà EVFTA có hiệu lực rất kịp thời, giúp cho các doanh Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh năm 2020 chịu tác động nặng nề của dịch Covid-19.

Tuy đạt được những kết quả tích cực, xuất khẩu tăng trưởng dương, nhưng một số ngành, như ngành dệt may tăng trưởng xuất khẩu giảm, do đó việc hỗ trợ các doanh nghiệp trong thúc đẩy xuất khẩu là hết sức quan trọng.

Để các doanh nghiệp có thể tận dụng được các lợi thế từ EVFTA, sáng ngày 17/10, Bộ Công Thương sẽ tổ chức Hội nghị tổng kết sơ kết cũng như phổ biến lợi ích, cách thức khai thác lợi thế từ EVFTA.

Cùng với việc tăng cường công tác thông tin định hướng sản xuất, thông tin thị trường phục vụ xuất khẩu, trong thời gian vừa qua, Bộ Công Thương cũng đã đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối giao thương. Đặc biệt là sử dụng hình thức điện tử để vượt qua những khó khăn do việc thực hiện cách ly, giãn cách xã hội, đa dạng hóa các hình thức xúc tiến thương mại.

Công tác cải cách hành chính và tạo thuận lợi thương mại được Bộ đặc biệt quan tâm. Bộ liên tục rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, cơ chế quản lý chuyên ngành để tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp. Bộ Công Thương là một trong những Bộ đầu tiên tham gia Cơ chế Một cửa quốc gia, và cũng đang phối hợp với các Bộ ngành để cắt giảm chi phí logistics, qua đó góp phần nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Về lâu dài, việc đẩy mạnh xuất khẩu bên cạnh số lượng cần chú trọng về chất lượng, giá trị. Bộ sẽ phối hợp với các ngành để tạo ra các nguồn hàng có chất lượng cao, đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường, gia tăng giá trị sản phẩm. Đối với các mặt hàng nông sản, Bộ sẽ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất quy mô lớn, gắn sản xuất với chế biến, thu mua, tiêu thụ, từ đó đẩy mạnh liên kết theo chuỗi giá trị, đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và người nông dân.

- Phóng viên Tuấn Linh - Báo Ngày nay:

1. Công tác phòng chống buôn lậu hàng giả hàng nhái, hàng hóa cuối năm ngày càng căng thẳng, trước tình hình này Bộ Công Thương có giải pháp gì trấn áp thực trạng trên?

2. Mưa lũ miền Trung ảnh hưởng tới nguồn cung hàng hóa, thực phẩm. Bộ Công Thương có giải pháp gì về công tác bình ổn giá cả thị trường?

Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước Hoàng Anh Tuấn - trả lời:

Trong thời gian qua, công tác đảm bảo hàng hóa luôn được Bộ Công Thương chú trọng. Vụ đã tham mưu để Bộ ban hành kế hoạch và phối hợp với Sở Công Thương các địa phương đảm bảo nguồn cung cho người dân trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp qua hai đợt dịch đầu năm 2020 và tháng 7/2020.

Hiện, Bộ đang lên kế hoạch bình ổn thị trường dịp cuối năm và Tết Tân Sửu, đặc biệt là hai đầu cầu thanh phố lớn là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó tiếp tục thực hiện chương trình bình ổn thị trường và mặt hàng bình ổn chính là lương thực, thực phẩm, thịt gia súc, gia cầm.

Ngoài ra, Bộ sẽ phối hợp với các Sở Công Thương, hiệp hội, ngành hàng, doanh nghiệp sản xuất và phân phối thường xuyên bám sát diễn biến cung-cầu, giá cả hàng thiết yếu nhất là những mặt hàng có khả năng mất cân đối cung-cầu trong ngắn hạn để kịp thời đưa ra các giải pháp điều hành, đảm bảo thông tin và cung-cầu hàng hóa.

Bộ cũng sẽ chỉ đạo các Sở, doanh nghiệp trên địa bàn xây dựng các Chương trình bình ổn thị trường, nhất là các giai đoạn sát Tết, tăng cường các điểm bán tại khu công nghiệp, vùng sâu vùng xa… để đảm bảo người dân không thiếu hàng, sốt giá.

Tổng Cục trưởng Tổng Cục Quản lý thị trường Trần Hữu Linh - trả lời:

Bộ Công Thương luôn chú trọng vấn đề quản lý thị trường dịp cuối năm, thực tế công tác chống buôn lậu, kiểm soát thị trường được QLTT triển khai quanh năm, thường xuyên và liên tục. Đáng chú ý, những tháng cuối năm tình hình buôn bán, hàng giả, hàng nhái diễn ra phức tạp hơn, nhất là năm nay dịch bệnh Covid hoành hành, các mặt hành cần kiểm soát chặt chủ yếu tập trung hàng y tế.

Tại thời điểm này, khi công tác chuẩn bị hàng hóa dịp Noel, Tết Dương lịch, Tết cổ truyền… đang được các doanh nghiệp tập trung chuẩn bị thì các mặt hàng thiết yếu cũng cần được kiểm soát chặt.

Ngoài ra, Tổng cục QLTT đang tiếp tục triển khai các chương trình kế hoạch của Chính phủ và Bộ Công Thương, tập trung vào các mặt hàng nóng, trọng điểm như thuốc lá điếu, xì gà rượu bia, nước giải khát, pháo nổ, quần áo, giày dép, mỹ phẩm… Đây đều là những mặt hàng có nhu cầu cao trong dịp Tết Nguyên đán.

Riêng với việc bán hàng online đang phát triển mạnh, mới đây, Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình - Trưởng ban chỉ đạo 389 đã ban hành Kế hoạch số 399/KHBCDD389 ngày 10/10/2020 về tăng cường chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong hoạt động thương mại điện tử. Kế hoạch này diễn ra trong 3 năm (từ tháng 11/2020-11/2023) để tập trung các bộ, ngành phối hợp với các lực lượng  đẩy mạnh phòng chống gian lận thương mại hàng giả, hàng nhái trên mạng xã hội, bán hàng qua thương mại điện tử, kể cả lĩnh vực buôn lậu xăng dầu.

Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng sẽ đồng thời tiếp tục phối hợp với các lực lượng chức năng, Hải quan, các hiệp hội ngành hàng kiểm soát về lĩnh vực xăng dầu. Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo tăng cường công tác quản lý thị trường về lĩnh vực này thông qua việc ký hai Nghị định xử phạt: Nghị định số 99/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí và Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Thời gian tới, QLTT sẽ phối hợp với các địa phương tăng cường kiểm tra, kiểm soát các chợ, trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tiện ích về niêm yết giá nhất là các mặt hàng nhu yếu phẩm, xử lý nghiêm việc lợi dụng tình hình dịch bệnh để trà trộn lưu thông hàng giả, hàng không rõ xuất xứ…

Đặc biệt, việc đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến cho người dân là nhiệm vụ quan trọng mà QLTT tiếp tục triển khai. Yêu cầu lực lượng QLTT đến các điểm nóng, phối hợp với bà con tại các địa phương cam kết không tiêu thụ hàng giả nhằm nâng cao ý thức và giảm thiểu việc tiêu thụ hàng giả, hàng lậu…



Tags:
Tin liên quan
THÔNG BÁO MỚI
1
2
3
Video
Xem toàn bộ